SOẠN VĂN: BÀI THƠ ĐÒ LÈN (NGUYỄN DUY)

568
Bài thơ đò lèn của nguyễn duy
Bài thơ đò lèn của nguyễn duy
5/5 - (1 bình chọn)

Đò lèn là tình cảm đẹp đẽ và xúc động nhất của nhà thơ Nguyễn Duy dành cho người bà tần tảo, giàu đức hi sinh của mình. Bài phân tích bài thơ dưới đây sẽ giúp các bạn có thể cảm nhận được tình bà cháu thiêng liêng, cao đẹp và những tháng ngày thơ ấu vô tư, hồn nhiên bên bà của tác giả.

Dàn ý chi tiết phân tích bài thơ Đò Lèn – Nguyễn Duy

  1. Mở bài

Giới thiệu vài nét về tác giả Nguyễn Duy và bài thơ Đò Lèn.

  1. Thân bài

Hình ảnh người bà tần tảo trong ký ức của tác giả

  • Những kỷ niệm thời thơ ấu của tác giả – một cậu bé nhà nghèo, vô tư, ham chơi, tinh nghịch.
    • Hình ảnh cậu bé với những trò chơi trẻ thơ: câu cá, theo bà đi chợ, bắt chim, trộm nhãn…
    • Một loạt các địa danh được hiện lên cống Na, chợ Bình Lâm, chùa Trần, đền Cây Thị, đền Sòng: gần gũi và gắn bó chặt chẽ với tuổi thơ, mang đậm nét văn hóa làng, xã của Việt Nam.
    • Gợi nhớ kỷ niệm xưa, thể hiện sự trân trọng thời thơ ấu, yêu quý quê hương và tiếc nhớ người bà kính yêu.
    • Cái nhìn tự vấn, tự nhắc lại sự vô tâm của bản thân khi chưa biết quan tâm đến bà khi còn được ở bên bà.
  • Hình ảnh của người bà hiện lên trong ký ức của tác giả.
    • Bà một mình âm thầm vượt qua mọi cơ cực, vât vả buôn bán ngược xuôi, chịu mọi hiểm nguy để nuôi dạy đứa cháu mồ côi và nghịch ngợm giữa cảnh chiến tranh khốc liệt.
    • Hình ảnh người bà “mò cua xúc tép”, “gánh chè xanh Ba Trại”, “thập thững những đêm hàn”, “bom Mĩ giội nhà – bay mất, “bán trứng ở ga Lèn”.

=> Miêu tả bằng một nét vẽ rất thực, rất đậm hình tượng về người bà của nhà thơ; và cũng là hình ảnh một người bà rất gần gũi với mỗi gia đình Việt Nam chúng ta.

    • Bà là một phần của tuổi thơ cháu: níu váy bà đi chợ Bình Lâm…hình ảnh thân thương và gắn bó biết bao.
    • Một người bà hiền lành, đôn hậu, tâm hồn bà thánh thiện như: Tiên, Phật, Thánh.
    • Sống trong tình yêu thương ấp ủ của bà, đứa cháu mới thấu hiểu được tấm lòng và tâm hồn của bà.

=> Trước một người bà giản dị, tần tảo, lam lũ mà tràn đầy tình yêu thương, tràn đầy nghị lực cao cả ấy, người cháu rất mực yêu quý và trân trọng bà. Bà là hiện thân của người phụ nữ Việt Nam về đức hy sinh, chịu thương chịu khó, của những cái cò lặn lội trong cuộc đời.

Sự thức tỉnh muộn màng của tác giả – người cháu

Tình cảm của cháu khi nghĩ về bà ngoại:

  • Thấu hiểu nỗi cơ cực, lam lũ, tần tảo và tình yêu thương của bà.
  • Yêu thương, tôn kính, trân trọng bà. 
  • Sự ân hận, ngậm ngùi, đau xót muộn màng.

“Khi tôi biết thương bà thì đã muộn

Bà chỉ còn một nấm cỏ thôi “

  • Nỗi xúc động khi đứng trước ngôi mộ bà.
  • “Dòng sông xưa vẫn bên lở bên bồi”: dòng sông xưa là sông Chu, sông Mã, sông Đò Lèn. Hàm ý về sự đổi thay của quê hương xứ xở.
  • “Bà chỉ còn là một nấm cỏ thôi”: nỗi buồn man mác, triết lí nhân sinh sâu sắc về kiếp người hữu hạn trong dòng chảy vô hạn của thời gian và vũ trụ; sự thức tỉnh, tiếc nuối, tự trách bản thân của người cháu khi đã không biết yêu thương bà lúc bà còn sống.
  1. Kết bài

Tổng quát giá trị nội dung, nghệ thuật của bài thơ và nêu lên cảm nhận của mình.

Sơ đồ tư duy bài Đò Lèn

sơ đồ tư duy bài đò lèn
Chi tiết sơ đồ tư duy bài đò lèn

Một số bài văn mẫu phân tích bài thơ Đò Lèn hay nhất

 

Phân tích bài đò lèn
Phân tích bài đò lèn

Phân tích bài dò lèn nguyễn duy

(Bài văn mẫu số 1)

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã từng có một nhận xét thú vị về nhà thơ Nguyễn Duy như sau: “Hình hài Nguyễn Duy giống như đám đất hoang, còn thơ Nguyễn Duy là thứ cây quý mọc trên đám đất hoang đó”. Có thể nói thơ của Nguyễn Duy khá đặc biệt khi trong những vần thơ ngang tàn, mang nét phóng khoáng và hồn nhiên tưởng chừng như không chút gì suy nghĩ, nhưng tận sâu bên trong đó lại là những ẩn ý chiêm nghiệm sâu sắc về cuộc đời, rất trầm tĩnh và lặng lẽ thấm vào tâm hồn của người đọc, rồi đột nhiên vỡ ra khiến cho người ta phải giật mình nhìn lại về những chặng đường, về tình cảm của bản thân trong những năm tháng đã qua. “Ánh trăng” là tác phẩm tiêu biểu cho cái lối viết ấy, chiêm nghiệm về tấm lòng dễ đổi thay của con người xấu hổ trước sự thủy chung son sắt của ánh trăng trên cao. Nhưng rồi đến “Đò Lèn” người ta lại càng thấm thía hơn trong cái nỗi suy tư về sự vất vả của người bà trong những năm tháng chiến tranh ác liệt, cùng với tuổi thơ hồn nhiên, vô tư chưa biết nghĩ của người cháu. Để rồi khi lớn lên, khi người cháu đã trưởng thành, đã chinh chiến nơi xa xôi, khi đất nước đã độc lập thì bà cũng chỉ còn lại một nấm cỏ xanh, những nuối tiếc của người cháu cũng đã muộn màng.

Nguyễn Duy đã từng là một người lính thông tin tham gia vào cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ, nên hình tượng người lính trong thơ ông cũng thường trở đi trở lại nhiều lần, đặc biệt là trong những đề tài về chiến tranh với quê hương đất nước. Ở đó, Nguyễn Duy thường không đi tìm những vẻ đẹp hoành tráng, kiêu hùng mà thay vào đó ông lại hay chú ý đến những vẻ đẹp đơn sơ, bình dị, thấm sâu trong từng ký ức tuổi thơ, đó là những nỗi vất vả, cực nhọc trong lao động của người nông dân trong kháng chiến. Trong “Đò Lèn” cũng vậy, cả bài thơ là một miền ký ức có vui vẻ, hồn nhiên, trong sáng nhưng cũng có những ký ức về một thời chiến tranh tàn khốc ác liệt. Tuy nhiên đọc thơ của Nguyễn Duy không phải để buồn mà là để suy nghĩ, để chiêm nghiệm, thế nên giọng thơ của ông rất thoải mái, đôi chỗ mặc dù thực tế tàn khốc vô cùng nhưng ông vẫn dùng cái giọng thơ hóm hỉnh để che lấp đi, rồi hướng người ta về một thứ tình cảm khác đẹp đẽ trân quý hơn đó là tình thân. Xuyên suốt “Đò Lèn” là dòng hồi ức của Nguyễn Duy, trong đó hai khổ thơ đầu là hình ảnh về tuổi thơ của tác giả trong những năm tháng rong chơi, hồn nhiên rất chân quê mộc mạc.

Thuở nhỏ tôi ra cống Na câu cá
níu váy bà đi chợ Bình Lâm
bắt chim sẻ ở vành tai tượng Phật
và đôi khi ăn trộm nhãn chùa Trần
Thuở nhỏ tôi lên chơi đền Cây Thị
chân đất đi đêm xem lễ đền Sòng
mùi huệ trắng quyện khói trầm thơm lắm
điệu hát văn lảo đảo bóng cô đồng”

Có thể nói rằng qua hồi ức của nhà thơ, ông đã có một tuổi thơ rất đẹp, rất đúng nghĩa, ở đó hiện lên hình ảnh của một cậu bé ham chơi, tinh nghịch, năng động, rong chơi khắp xóm làng, “câu cá”, “bắt chim“, đôi khi có cả “ăn trộm“, rồi cũng rất thích chỗ đông người, thích món quà vặt cho nên mới “níu váy bà đi chợ“. Một loạt các địa danh như: “cống Na”, “chợ Bình Lâm”, “chùa Trần”, “đền Cây Thị”, “đền Sòng” hiện lên thật gần gũi, thân quen.  Các địa danh đó cũng đã gắn bó chặt chẽ với tuổi thơ của tác giả, mang đậm nét văn hóa làng, xã của dân tộc Việt Nam. Thêm vào đó, cái chất thôn quê, dân dã còn hiện lên qua những chi tiết về phong tục, tập quán đặc sắc của người Việt xưa như “xem lễ đền Sòng“, hay thấm đượm hồn quê “với điệu hát văn lảo đảo bóng cô đồng“, vương vấn đâu đó cả mùi nhang trầm linh thiêng, cùng với hương thơm của huệ trắng tinh khiết cao nhã. Cùng hình ảnh”chân đất đi đêm xem lễ đền Sòng”  hiện lên cảnh nghèo khó, bình dị, đơn sơ nhưng lại làm toát lên tâm hồn trong sáng, thuần phác, hồn nhiên và ngộ nghĩnh của một cậu bé chân quê, đại diện cho cả một làng quê xưa. Bấy nhiêu đó thôi cũng đã khiến cho người ta hoài niệm, tự hào và thêm yêu thương những nét đẹp trong văn hóa truyền thống của dân tộc ta. Tuổi thơ của Nguyễn Duy tuy nghèo khó, vất vả nhưng nhà thơ vẫn được rong chơi, nghịch ngợm và  trải nghiệm như thế phần lớn là nhờ có sự gánh vác, trông nom của người bà. Trong tâm trí của Nguyễn Duy hình ảnh bà ngoại chính là hình ảnh gần gũi và thân thuộc nhất, để mỗi khi nhắc về ông lại mang nhiều những cảm xúc ngổn ngang, là nỗi hối hận, xót xa, là nỗi niềm thương bà khổ cực.

Tôi đâu biết bà tôi cơ cực thế
bà mò cua xúc tép ở đồng Quan
bà đi gánh chè xanh Ba Trại
Quán Cháo, Đồng Giao thập thững những đêm hàn

Nguyễn Duy nhẹ thốt lên một câu đầy hối hận và xót xa “Tôi đâu biết bà tôi cơ cực thế”. Điều ấy chẳng thể trách được bởi với một đứa trẻ đang tuổi ăn, tuổi lớn, với sự ngây thơ, hồn nhiên và cái tính ham chơi, nghịch ngợm ấy nó đã không để cho nhà thơ suy nghĩ được nhiều đến thế. Chỉ đến khi đã trưởng thành, đã chinh chiến xa xôi, Nguyễn Duy mới như bừng tỉnh và giật mình nhớ về hình dáng người bà năm xưa đã tảo tần nuôi mình khôn lớn. Ký ức như một cuốn băng chậm rãi đưa tác giả trở về với những hình ảnh ố vàng vết bụi của thời gian đó là những ngày mà “bà mò cua xúc tép ở đồng Quan”, hay những hôm “bà đi gánh chè ở Ba Trại”, đôi chân bà “thập thững những đêm hàn”. Hình tượng người bà chính là đại diện của người phụ nữ Việt Nam xưa về đức tính hy sinh, chịu thương chịu khó, dang đôi vai gầy gồng gánh hết khổ cực, một lòng vì con cháu. Có lẽ hình ảnh của người bà và cảm xúc của nhà thơ trong đoạn thơ này cũng giống với Bằng Việt trong bài thơ “Bếp lửa”: “Nhóm bếp lửa nghĩ thương bà khó nhọc“, đó là tấm lòng yêu thương, tôn kính và nỗi xót xa cho những khó nhọc, khổ cực mà bà ngoại mình đã phải trải qua trong cả một cuộc đời, để cho đứa cháu có được một tuổi thơ êm đềm hạnh phúc, vô lo vô nghĩ. Trong đôi mắt của Nguyễn Duy thì tình cảm của bà ngoại dành cho ông thật ấm áp, thật dịu dàng và thánh khiết vô cùng.

“Tôi trong suốt giữa hai bờ hư – thực
giữa bà tôi và tiên phật, thánh thần
cái năm đói củ dong riềng luộc sượng
cứ nghe thơm mùi huệ trắng hương trầm”

Nhà thơ đứng giữa “bờ hư – thực” để nghĩ về người bà, dùng tấm lòng trong suốt, tinh tế của mình để cảm nhận về bà và tình cảm của bà, bà luôn dành cho cháu một tình cảm nhân từ, độ lượng, yêu thương vô bờ bến. Bà nhường cho cháu “củ dong riềng luộc sượng” trong những năm tháng đói mòn, đói mỏi, cháu ăn vào mà như ăn cả tình thương ấm áp và dịu dàng của bà. Ôi sao ngon ngọt thế cái tình thương “mùi huệ trắng hương trầm” thiêng liêng, quẩn quanh và tràn đầy trong ký ức. Cái mùi thơm của “huệ trắng nhang trầm” ấy lặp đi lặp lại hai lần trong bài thơ, như ôm lấy một tuổi thơ nghèo khó nhưng chan chứa tình cảm của Nguyễn Duy, tựa như tình thương, tựa ánh mắt hiền từ, thánh thiện như tiên phật của người bà dõi theo bước chân cháu cả cuộc đời, khiến cháu cứ nhớ mãi, thương mãi.

“Bom Mỹ dội, nhà bà tôi bay mất
đền Sòng bay, bay tuốt cả chùa chiền
thánh với Phật rủ nhau đi đâu hết
bà tôi đi bán trứng ở ga Lèn”

Rồi chiến tranh đi ngang qua xóm làng, nhà thơ đã dùng một cái chất giọng hóm hỉnh để diễn tả cái cảnh đầy ác liệt ấy, hòng làm cho thơ mình trở lên nhẹ nhàng hơn, tha thiết hơn nhưng vẫn khắc sâu vào trong lòng người đọc.  Những hình ảnh tàn khốc mà bom đạn đã để lại trên xóm làng “nhà bà tôi bay mất”, “đền Sòng bay, bay tuốt cả chùa chiền”. Chỉ với một từ “bay” nhẹ thế thôi, nhưng nó đủ để diễn tả lại cái cảnh xóm làng bị tàn phá đến không còn gì, và phải bật cười với câu thơ rất hồn nhiên của tác giả “thánh với Phật rủ nhau đi đâu hết”. Tất cả đã đi hết hoặc đã mất hết thế nhưng vẫn còn bà ngoại, bà trụ vững hơn cả nhà cửa, chùa chiền và còn kiên cường hơn thánh, Phật; bà vẫn ở lại đây để mưu sinh, vẫn “đi bán trứng ở ga Lèn”, để nuôi đứa cháu còn thơ dại. Chỉ có thứ tình cảm ruột thịt, tấm lòng hy sinh cao cả, chịu đựng của người bà, của người phụ nữ Việt Nam mới có thể mạnh mẽ và kiên cố đến vậy, dù cho có là bom đạn, có là mưa sa bão táp hay những gian khó cuộc đời cũng chẳng bao giờ đánh sập được.

Một thời ký ức đã qua, khi cháu lớn lên, đã trưởng thành, đã bước ra chiến trường cháu mới biết thương cái bóng hình khó nhọc, kiên cường của bà, nhưng  khi trở về thì đợi cháu chỉ còn là nấm mộ đã xanh cỏ từ lâu. Bà mạnh mẽ, kiên cường đến thế nhưng cũng không chống đỡ được dòng chảy của thời gian. Khi cháu đã lớn khôn, đã biết suy nghĩ thì cũng là lúc không cần sự bảo bọc chở che của bà nữa. Nguyễn Duy trở về quê hương để tìm về với bà, với những xóm làng thân thuộc thuở thơ ấu, mọi thứ dường như đã đổi thay ít nhiều và bà cũng chẳng còn ở đó nữa.

Tôi đi lính, lâu không về quê ngoại
dòng sông xưa vẫn bên lở bên bồi
khi tôi biết thương bà đã muộn
bà chỉ còn là một nấm cỏ thôi”

Nỗi xúc động nhìn dòng sông xanh biếc đại diện cho quê hương của mình, chiến tranh đã qua đi, quê hương lại được trở về với vẻ thanh bình vốn có, cùng với niềm tiếc nuối muộn màng của người cháu khi xưa đã không biết trân trọng, yêu thương khi bà còn bên cạnh mà chỉ mải rong chơi. Nay bà đã đi, đi về với cõi thần tiên, dưới gối Phật tổ, chỉ để lại một nấm cỏ xanh khiến tác giả không khỏi ngậm ngùi, hối hận, hối hận về một tuổi thơ quá vô tâm mà không để ý mắt bà đã mờ, lưng bà đã mỏi, đôi tay bà cũng đã trở lên thô sần theo năm tháng. Khổ thơ cuối của bài thơ bỗng thức tỉnh tâm hồn người đọc, khiến cho mỗi chúng ta phải giật mình và tự vấn lại bản thân xem liệu mình đã thực sự biết trân trọng, yêu thương người thân, những người đang hiện diện ngay bên cạnh chúng ta chưa. Và hơn thế, bài thơ còn mang đến một triết lý nhân sinh vô cùng sâu sắc về kiếp người hữu hạn trong dòng chảy vô hạn của thời gian và vũ trụ.

Phân tích bài thơ đò lèn của nguyễn duy
Phân tích bài thơ đò lèn của nguyễn duy

Phân tích bài thơ đò lèn của nguyễn duy

(Bài văn mẫu số 2)

Bên cạnh sự thành công của các tác phẩm như: “Ánh trăng” ,“Cát trắng”, “Đãi cát tìm vàng”.. thì bài thơ “Đò Lèn” của Nguyễn Duy cũng đã để lại trong lòng bạn đọc những ấn tượng sâu sắc. Bài thơ này được viết năm 1983, trong một dịp trở về quê hương nơi mà ông đã sinh sống, nơi có những hồi ức buồn vui đan xen của thời thơ ấu.

Nhắc đến tuổi thơ là nhắc đến những hình ảnh đẹp đẽ và yên bình, nhưng nhà thơ Nguyễn Duy lại nhắc về tuổi thơ của mình, một tuổi thơ với những kỷ niệm trong thời chiến tranh loạn lạc:

“Thuở nhỏ tôi ra cống Na câu cá
níu váy bà đi chợ Bình Lâm
bắt chim sẻ ở vành tai tượng Phật
và đôi khi ăn trộm nhãn chùa Trần.”

Tuổi thơ của tác giả là những lần đi “câu cá”, “níu váy bà đi chợ”, đi “bắt chim sẻ” hay cả “đi ăn trộm nhãn”. Không chỉ có thế, trong tuổi thơ ấy tác giả còn được theo bà đi lên “đền Cây Thị”, đi “xem lễ đền Sòng” và đi nghe điệu hát văn của “cô đồng”. Chúng ta có thể nhận thấy đây là một cậu bé ham chơi, tinh nghịch, vô tư, hồn nhiên và còn rất hiếu động. Những ký ức thời thơ ấu của cậu không gắn với bè bạn, những đứa trẻ đồng trang lứa trong xóm làng mà lại gắn bó mật thiết với người bà ngoại. Nhờ có bà mà người cháu mới biết được những nơi chốn, địa điểm tâm linh của con người và đời sống tinh thần của họ phong phú vô cùng. Bà và cháu gắn bó khăng khít với nhau bởi cậu bé ấy luôn đi theo bà dù là đi chợ, lên đền hay lên chùa.

Chính vì sự vô tư, hồn nhiên như thế nên khi tác giả nhận ra được sự lam lũ, vất vả của bà cũng là lúc bản thân cảm thấy day dứt trong niềm ân hận:

“Tôi đâu biết bà tôi cơ cực thế
bà mò cua xúc tép ở đồng Quan
bà đi gánh chè xanh ba Trại
Quán Cháo, Đồng Giao thập thững những đêm hàn.”

Vì tuổi thơ ham chơi nên cậu đã không nhận ra được bà đã phải vất vả, lam lũ, tần tảo như thế nào vì cuộc sống mưu sinh. Hết đi “mò cua xúc tép”, bà lại “đi gánh chè”, rồi bán trứng. Bà đã phải gánh cả trách nhiệm của người cha, người mẹ để nuôi cậu khôn lớn. Đến đây, tác giả không còn nhắc lại đến những trò chơi của thời thơ ấu nữa mà thay vào đó là những hình ảnh kiên cường và sự hy sinh cao cả của người bà.

Tôi trong suốt giữa đôi bờ hư – thực
giữa bà tôi và tiên phật thánh thần
cái năm đói củ dong riềng luộc sượng
cứ nghe thơm mùi huệ trắng, hương trầm

Tình yêu thương, tấm lòng nhân từ độ lượng của bà thật giống với Tiên, Phật, thánh thần. Bà đã hy sinh, chịu đựng những gian khó, vất vả, cực nhọc để có thể nuôi dưỡng cháu trưởng thành. Dù có gặp phải bao nhiêu khó khăn đi chăng nữa thì bà vẫn cam chịu, không lùi bước. Sự kham khổ, cùng cực trong những năm đói kém phải ăn những củ “dong riềng luộc sượng” nhưng tác giả vẫn nghe thấy thoang thoảng đâu đây mùi thơm của huệ trắng, hương trầm. Phải chăng cái mùi hương ấy là sự ám ảnh của quá khứ, của những ngày cậu theo chân bà lên đền Sòng, đền Cây Thị?

Người bà đã chịu nhiều khổ cực như vậy nay lại phải kiên cường chống lại sự ác liệt của cuộc chiến tranh phi nghĩa:

“Bom Mỹ giội nhà bà tôi bay mất
đền Sòng bay, bay tuốt cả chùa chiền
thánh với Phật rủ nhau đi đâu hết
bà tôi đi bán trứng ở ga Lèn.”

Cuộc sống cơ cực là thế, nhà thì bị bom Mỹ giội bay đi mất, những nơi linh thiêng phục vụ cho đời sống tinh thần con người nói chung và của bà nói riêng như chùa chiền cũng theo đó mà bay đi. Dường như để nén lại sự đau thương mất mát, nhà thơ đã cố tình dùng chất giọng thơ hóm hỉnh để làm cho câu thơ trở lên nhẹ nhàng hơn nhưng vẫn lắng sâu trong lòng người đọc. “Thánh với Phật rủ nhau đi đâu hết” một câu nói mang đầy nét hồn nhiên, ngây thơ khiến cho người đọc phải phì cười. Tất cả đã đi hết, đến cả Thánh, Phật cũng đã đi luôn, nhưng người bà vẫn kiên cường, cố trụ vững lại nơi đây, bất chấp hiểm nguy để mưu sinh, vẫn “đi bán trứng ở ga Lèn” nuôi đứa cháu nhỏ.  Thế là người bà lại một mình bươn trải với cuộc sống đầy khó khăn này bằng nghề bán trứng. Còn gì vất vả hơn những gian khổ mà bà trải qua? Đạn bom cũng không thể hủy diệt đi sức sống của bà mà nó càng khiến cho bà trở lên kiên cường, mạnh mẽ hơn. Sự mạnh mẽ ấy chính là sự mạnh mẽ của những con người anh hùng, vĩ đại. Bà chính là sự hiện thân cho những người phụ nữ Việt Nam về đức tính hy sinh, yêu thương con cháu và sự mạnh mẽ phi thường vượt lên nghịch cảnh vì con vì cháu.

Thời gian thấm thoát thoi đưa, chẳng mấy chốc mà cậu bé năm nào giờ đã trưởng thành:

“Tôi đi lính, lâu không về quê ngoại
dòng sông xưa vẫn bên lở, bên bồi
khi tôi biết thương bà thì đã muộn
bà chỉ còn là một nấm cỏ thôi.”

Tác giả đã rất xót xa, ân hận vì cho tận đến khi trưởng thành ông mới thấu hiểu được nỗi cơ cực, sự hy sinh cao cả của bà. Khi người cháu muốn báo đáp công ơn thì người bà nay đã không còn nữa. Khổ thơ là sự đau đớn cùng cực, sự giằng xé đến ngậm ngùi vì mất đi một người thân yêu, gần gũi nhất. Khi người cháu từ chiến trường trở về, muốn được nhìn thấy, được báo ơn công lao nuôi dưỡng của bà thì “bà chỉ còn một nấm cỏ thôi”, niềm xúc động như vỡ òa bật thành tiếng khóc nức nở. Có ai không khỏi động lòng xúc động, không nghẹn ngào tiếng nấc trước cảnh tượng đau xót đó. Sự ân hận đã trở lên muộn màng, day dứt tâm can của tác giả. Từ đây tác giả cũng đưa ra một triết lý nhân sinh sâu sắc “hãy trân trọng, yêu thương những người thân yêu, những người đang còn bên cạnh mình, đừng để mất đi rồi mới thấy hối hận muộn màng” khiến cho người đọc phải giật mình, chiêm nghiệm và tự vấn lại bản thân mình.

Bằng giọng điệu chân thành, sâu sắc và sự khéo léo, tinh tế khi sử dụng phép đối giữa hai bờ hư – thực là “bà ngoại” với” tiên, Phật, thánh, thần” và giữa sự hiếu động, vô lo vô nghĩ của người cháu với những cơ cực, hy sinh của người bà đã góp phần tạo lên sự thành công của tác phẩm. Nguyễn Duy đã không cần mượn một hình ảnh biểu tượng nào để thể hiện tình cảm với người bà mà ông đã trực tiếp biểu lộ tình cảm ấy qua những hình ảnh người bà đã lam lũ, tần tảo. Chính điều đó đã để lại những dấm ấn, những dư âm vang vọng trong lòng độc giả.

Bài văn phân tích đò lèn
Bài văn phân tích đò lèn

Bài văn phân tích đò lèn

(Bài văn mẫu số 3)

Trong cuộc đời của mỗi con người, có lẽ tuổi thơ chính là quãng thời gian trong sáng nhất, tươi đẹp nhất. Có những tuổi thơ êm đềm,bình dị cũng có những tuổi thơ đầy dữ dội nhưng dù thế nào, khi không thể trở lại, thì mỗi chúng ta vẫn có những phút giây hoài niệm đầy tiếc nuối.  Nhà thơ Xuân Quỳnh thì thương ổ trứng gà của bà, Tế Hanh thì nhớ con sông quê hương, Bằng Việt thì trở lại bếp lửa yêu thương… và với Nguyễn Duy thì ông mải miết tìm về một Đò Lèn thuở nghe cổ tích.

Cùng với  những tác phẩm“Tre Việt Nam”, “Ngồi buồn nhớ mẹ ta xưa” và “Ánh trăng”… thì “Đò Lèn” là bài thơ được rất nhiều bạn đọc yêu thích bởi những xúc cảm yêu thương chân thành mà tác giả đã phổ một cách tự nhiên trong đó. Bài thơ gồm có sáu khổ. Hai khổ thơ đầu là những kí ức về thời thơ ấu với những trò chơi ngày nhỏ. Hai khổ tiếp theo là sự nhận thức và cảm xúc của nhân vật trữ tình về những sự hi sinh thầm lặng của bà ngoại.

Khổ thơ thứ năm là kí ức về những ngày mà bom Mỹ đánh phá tan hoang nhà cửa, chùa chiền. Và khổ thơ cuối cùng là tâm trạng bùi ngùi, nuối tiếc của nhân vật tôi khi bà ngoại không còn nữa. Xuyên suốt tác phẩm chính là tình yêu sâu nặng người cháu dành cho bà ngoại. Bài thơ được bắt đầu bằng dòng hoài niệm, bằng những hồi ức về thuở xa xăm:

Thuở nhỏ tôi ra Cống Na câu cá

níu váy bà đi chợ Bình Lâm

bắt chim sẻ ở vành tai tượng Phật

và đôi khi ăn trộm nhãn chùa Trần

Thuở nhỏ tôi lên chơi đền Cây Thị

chân đất đi đêm xem lễ đền Sòng

mùi huệ trắng quyện khói trầm thơm lắm

điệu hát văn lảo đảo bóng cô đồng”

 

Hai chữ “thuở nhỏ” mở đầu bài thơ, được lặp lại lần nữa ở khổ thứ hai không chỉ là dấu mốc thời gian mà nó như còn đong đầy nỗi ngậm ngùi. Chủ thể điểm nhìn trong bài thơ đó là nhân vật tôi – nhưng không phải là tôi của cái thời thuở nhỏ mà là tôi khi đã lớn khôn, trưởng thành. Đó là lí do mà những kỉ niệm ùa về rất nhiều nhưng tất cả chỉ được gọi tên một cách vội vã: “câu cá”, “níu váy bà đi chợ”, “bắt chim sẻ”, đôi khi còn “ăn trộm nhãn”, “chơi đền Cây Thị” hay “xem lễ Đền Sòng”.

Những trò chơi của cậu bé nông thôn ấy được liệt kê ra với mức độ dày đặc. Ngần ấy trò đã cho chúng ta hình dung về một chú nhóc ham chơi,  tinh nghịch, hiếu động. Điều đáng nói ở đây là kỉ niệm của cậu không hề gắn với lũ bạn đồng trang lứa mà luôn quấn quýt với bà ngoại. Bà ngoại tôi chỉ xuất hiện một lần duy nhất trong hành động đến chợ Bình Lâm, nhưng tưởng như bước chân của bà luôn theo đỡ bao kỉ niệm của thằng cháu ngoại.

Trẻ con – nhất là những đứa bé trai – vẫn thích tha thẩn vào nơi vườn cây, ao cá nhưng điểm đến của nhân vật tôi ở đây lại là những đền chùa, chợ búa – nơi mà các bà cụ thường hay lui tới. Nguyễn Duy đã nhắc đến năm địa danh thì trong số đó có tới ba tên chùa, đền. “Chùa Trần”, “đền Sòng”, ‘đền Cây Thị” nơi mà bà đến cũng chính là những nơi cậu bé theo đi, tất nhiên không phải đến để thành tâm lễ Phật như bà mà chỉ để khám phá bao điều kì thú ở đó.

Có thể ngày bé, nhân vật tôi –cậu bé ấy chỉ mải miết với những trò nghịch ngợm của mình, thậm chí là sẽ bị bà ngoại quở trách vì các hành động “bắt chim sẻ ở vành tai tượng Phật”, hay “ăn trộm nhãn chùa Trần”. Nhưng rồi tất cả những gì đọng lại trong kí ức lại là “mùi huệ trắng quyện khói trầm” và “điệu hát văn” cùng bóng dáng của cô đồng trong chùa. Giờ thì ta đã hiểu tại sao tác giả không dừng lại để miêu tả cụ thể một trò chơi nào.

Mùi hương thơm thanh khiết, trầm tịch chốn thâm nghiêm và điệu hát  của cô đồng khó hiểu là tất cả những gì choán đầy trong nỗi nhớ nhân vật trữ tình. Điều phảng phất, thậm chí là không cố tình được trẻ thơ lưu lại trong trí nhớ thì lại có sức bám đọng mãnh liệt nhất khi kí ức dội về. Căn nguyên là do đâu? Có phải là vì thấp thoáng đâu đó trong khói hương thơm ngát và điệu hát văn thuở xưa là bóng dáng của bà ngoại yêu dấu? Sang đến khổ thơ tiếp theo tứ thơ có một sự biến đổi đột ngột. Không còn là các trò tinh nghịch thuở xưa nữa mà thay vào đó là nỗi yêu thương không thể nén kìm:

 

“Tôi đâu biết bà tôi cơ cực thế

bà mò cua xúc tép ở đồng Quan

bà đi gánh chè xanh ba Trại

Quán Cháo, Đồng Giao thập thững những đêm hàn”

Dòng hoài niệm không chỉ dừng lại ở những trò chơi thuở nhỏ mà được tiếp nối bằng những hình ảnh bà ngoại lam lũ, tảo tần sớm khuya. “Tôi đâu biết” – không phải là lời sám hối mà đó là lời tự trách đầy tiếc nuối, xót xa của người cháu khi đã trưởng thành. Tất cả những gì khuất lấp trong tuổi thơ giờ đã được nhà thơ nhận thức sáng tỏ.

Vẫn là biện pháp liệt kê nhưng không phải là trò chơi thuở nhỏ kia nữa mà là bao nỗi vất vả, “cơ cực” của bà. Thực ra, “mò cua”, “xúc tép” hay “gánh chè’… là những  công việc quen thuộc của người phụ nữ nông thôn Việt Nam. Nếu ai đã đọc những câu thơ của nhà thơ Trần Đăng Khoa, thì chắc sẽ thương lắm dáng bà, dáng mẹ giữa trưa tháng sáu:

“Nước như ai nấu

Chết cả cá cờ

Cua ngoi lên bờ

Mẹ em xuống cấy”

Nếu ai đã đọc tác phẩm “Bên kia sông Đuống” của Hoàng cầm, sẽ thấy có một sự đồng điệu giữa Hoàng Cầm và Nguyễn Duy trong hình ảnh thơ:

Mẹ già nua còm cõi gánh hàng rong

Dăm miếng cau khô

Mấy lọ phẩm hồng

Vài thép giấy đẫm hơn sương sớm”

Những “cơ cực” ấy đáng lẽ ra không nên có ở những người bà đã đi qua bao nhọc nhằn, vất vả trong cuộc sống, không nên có ở lứa tuổi mà lẽ ra phải được thảnh thơi, vui vầy bên con cháu. Một lần nữa Nguyễn Duy đã cho các địa danh xuất hiện, nhưng đó không còn là những đền chùa linh thiêng nữa mà là “Ba Trọi”, “Đồng Quan”, “Quản Cháo”, “Đồng Giao” là nơi đã in dấu chân bà ngoại tảo tần sớm hôm.

Không gian nối tiếp không gian, mở -rộng và kéo dài hành trình lam lũ của bà, đồng thời cũng khơi sâu thêm nỗi xa xót trong lòng cháu. Từ láy “thập thững” đã hiện lên trước mắt người đọc  là một dáng đi không vững chãi, thậm chí siêu vẹo của người mắt kém đang phải mang một gánh nặng trên vai. Cụm từ “những đèm lùm” vừa chỉ thời gian, lại vừa có giá trị mô tả không gian. Đêm là thời điểm muộn hơn tối.

Cũng để chỉ cái lạnh nhưng nhà thơ không viết “đêm lạnh” hay “đêm rét” mà viết “đêm hàn”. Sự kết hợp từ khéo léo này đã mang lại hiệu quả nghệ thuật bất ngờ. Trong cái lạnh của đêm tối ấy, ta còn cảm nhận được cả cái buốt giá của làn sương đêm. Những cơ cực của bóng dáng lầm lụi ấy không được miêu tả chi tiết nhưng vẫn được gợi lên trong suy tưởng của người đọc. Đó chẳng phải là những sự hi sinh âm thầm sao?

Tác giả-nhân vật trữ tình dường như không dám tin vào những điều mà mình vừa nhận ra, không dám tin vào những điều mà thuở bé thơ mình không cảm nhận được. Cảm thức về người bà cùng bao kí ức sâu đậm về những vị thần, Phật, tiên đã khiến cho nhà thơ phân vân:

“Tôi trong suốt giữa đôi bờ hư thực

Giữa bà tôi và tiên phật thánh thần

Cái năm đỏi củ dong riềng luộc sượng

Cứ nghe thơm mùi huệ trắng, hương trầm”

Có lẽ đây là khổ thơ hay nhất trong bài, hay bởi cách nói và xúc động là bởi chiều sâu tình cảm. “Trong suốt” là một tính từ chỉ tính chất sự vật, hiện tượng được Nguyễn Duy đưa vào lời thơ, nhưng nó được đảm nhiệm chức năng của động từ tình thái. Thật khó để gọi chính xác tên cảm xúc của nhân vật trữ tình. Chỉ có thể khẳng định một điều rằng, trạng thái này gần gũi với giây phút đốn ngộ của các bậc tu hành nhà Phật.

Hình ảnh người bà được đặt ngang hàng với tiên, phật, thánh thần thể hiện lòng ngưỡng mộ và tôn sùng của nhân vật tôi. Phải thực sự thấm thía và trân trọng công ơn của người bà thì nhân vật trữ tình mới có được tình cảm sâu sắc, mãnh liệt đến vậy.

Cảm giác đói dường như đã bị át đi bởi hương huệ trắng và hương trầm thanh khiết. Lần thứ hai hương thơm đó được xuất hiện trong bài thơ. Nhưng lần này nó không cònđược cảm nhận bằng khứu giác nữa mà bằng thính giác. Cái nét tinh tế của ý thơ chính là ở chỗ này đây. Nếu mãi chỉ là “cứ thoang thoảng” hay “cứ ngửi” thì hương huệ trắng và hương trầm ấy chỉ là thứ hương của hiện tại.

Đấy là chưa kể đến việc sử dụng động từ “ngửi” sẽ làm mất đi ý vị tao nhã của hình ảnh thơ, của lời thơ. Phải là “nghe” thì mới thấy được quá khứ vọng về, thì mới thấy  được sức ám ảnh của hương thơm quá khứ. Cảm thức về người bà luôn gắn với sự thanh nhã, nhân hậu, đức độ. Bà như thần tiên, bà như truyện cổ tích và bà luôn bất tử trong tâm thức của cháu. Khổ thơ thứ tư như bản lề khép lại những kí ức thuở nhỏ và đến gần hơn với sự mất mát thực tế được gợi tả trong khổ thứ năm:

“Bom Mỹ giội nhà bà tôi bay mất

đền Sòng bay, bay tuốt cả chùa chiền

Thánh với Phật rủ nhau đi đâu hết

bà tôi đi bán trứng ở ga Lèn”

Chiến tranh với những nỗi đau thương mất mát đã đi vào trong thơ ca và trở thành chủ đề xuyên suốt một thời đại. Mỗi người bước vào chiến tranh và đi ra với những sự mất mát riêng. Với Nguyễn Duy, đau thương nhất đó chính là sự tan hoang, đổ nát của những chùa chiền và ngôi nhà của bà ngoại. Tác giả đã lựa cách nói để kìm giữ những tổn thương tinh thần.

Không khắc họa “kiệt cùng ngõ thẳm bờ hoang” như nhà thơ Hoàng Cầm, Nguyễn Duy chỉ nhẹ nhàng kể lại: “nhà bà tôi bay mất”, “đến Sòng bay”, “bay tuốt cả chùa chiền”. “Bay” thực chất cũng là tan, là đổ nát đấy chứ. Nhưng “bay” cũng là gắn với cảm thức của tiên Phật. Nơi bình yên đã không còn yên bình nữa. Cái khốc liệt của chiến tranh đã in dấu ấn cả vào trong đời sống của thần tiên, huống chi là con người?

Điểm kết của những kí ức đó là hình ảnh người bà “đi bán trứng ở ga Lèn” mặc cho “bom Mỹ dội”, mặc cho “Thánh với Phật” đã phải rủ nhau đi cả rồi. Vẫn là sự tảo tần, lam lũ để mưu sinh? Hay sẽ là bắt đầu cho một sự bất trắc không lường trước được, một mất mát khôn cùng? Ga Lèn là điểm kết của một câu thơ nhưng lại được chọn để làm nhan đề cho bài thơ, điều đó chứng tỏ địa danh này gắn với một sự kiện quan trọng nào đó. Phải chăng, chính tại nơi này đây, những ngày tháng được gắn bó cùng người bà kính yêu của nhà thơ – nhân vật trữ tình cũng hết?

Thời gian trôi bẵng đi, khi đã lớn khôn, khi đã trưởng thành, đã nhận ra được những hi sinh lớn lao của bà, đã ý thức được tình cảm và trách nhiệm của mình, cũng là lúc mà nhân vật trữ tình mất bà mãi mãi. Hai câu cuối không có nét đặc sắc về tứ thơ nhưng lại gây xúc động trong lòng người đọc. “Bà chỉ còn là một nấm cỏ thôi!”- lời thơ nghe đầy xót xa và nuối tiếc.

“Đò Lèn” là một bài thơ không mới về chủ đề nhưng vẫn có một sức hấp dẫn đặc biệt nhờ cách diễn tả độc đáo, nhờ sự phô bày những yêu thương chân thành của tác giả. Tình yêu thương bà luôn gắn liền với cảm thức chùa chiền, tiên phật nên mang một màu sắc thanh khiết, sáng trong. Hàng loạt những địa danh của quê hương được gọi tên như càng tô đậm sự chân thực trong cảm xúc. Đó là những nét riêng, nét độc đáo để đọc “Đò Lèn”, chúng ta sẽ không nhầm với “Nhớ con sông quê hương” của Tế Hanh hay “Bếp lửa” của Bằng Việt…

 

XEM THÊM:

Tổng hợp chi tiết soạn bài tất cả các tác phẩm văn học 12