SOẠN VĂN 12: BÀI THƠ TIẾNG HÁT CON TÀU (CHẾ LAN VIÊN)

536
Soạn văn bài thơ tiếng hát con tàu chế lan viên
Soạn văn bài thơ tiếng hát con tàu chế lan viên
5/5 - (1 bình chọn)

Phân tích bài thơ Tiếng hát con tàu của Chế Lan Viên giúp chúng ta cảm nhận được tấm lòng, những tâm tư tình cảm của một tâm hồn nghệ sĩ giàu tình yêu quê hương đất nước. Hy vọng tài liệu này sẽ giúp các bạn tự ôn tập kiến thức môn Văn và đạt được kết quả tốt nhất trong các kỳ thi quan trọng sắp tới.

Dàn ý chi tiết phân tích bài thơ Tiếng hát con tàu

  1. Mở bài
  • Giới thiệu khái quát về tác giả: Chế Lan Viên.
    • Tập thơ “Điêu tàn” được xuất bản năm 1937 đã đưa Chế Lan Viên trở thành nhà thơ tiêu biểu của trào lưu Thơ mới trong giai đoạn trước Cách mạng tháng Tám 1945.
    • Ông đã hăng hái tham gia cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp. Từ đó, ông đã làm một cuộc hoá thân trong cuộc đời cũng như trong sự nghiệp sáng tác của mình để hòa hợp với nhân dân, đất nước.
  • Giới thiệu về tác phẩm: Bài thơ “Tiếng hát con tàu” được ra đời ở hoàn cảnh cụ thể là trong thời kỳ phong trào nhân dân miền xuôi lên miền núi để khai hoang, xây dựng và phát triển kinh tế. Bài thơ vừa là tiếng hát say mê của một tâm hồn thoát ra khỏi cái tôi nhỏ bé để đến với cái ta rộng lớn hơn đó là nhân dân, đất nước; cũng là nỗi nhớ thiết tha và lòng biết ơn sâu sắc của nhà thơ đối với chiến khu Tây Bắc – mảnh đất nặng nghĩa nặng tình.
  1. Thân bài

Ý nghĩa lời đề từ của bài thơ:

  • Chỉ trong lời đề từ, tác giả đã thể hiện được tư tưởng chủ đề của bài thơ và tình cảm của mình. Câu hỏi tu từ được đặt ra: Tây Bắc ư? Có gì riêng Tây Bắc…đó chính là lời lòng tự hỏi lòng, chứa đựng một nỗi băn khoăn, trăn trở rất thực trong tâm trạng của nhà thơ nói riêng và của tầng lớp văn nghệ sĩ nói chung ở thời điểm lịch sử đó.

Hai khổ thơ đầu: Lời giục giã với những câu hỏi đầy sự hối thúc

  • Hình ảnh con tàu dường như là một hình ảnh là ẩn dụ nghệ thuật mang ý nghĩa tượng trưng cho ước mơ, khát vọng được vượt ra khỏi cuộc sống chật hẹp quẩn quanh để đến với một cuộc sống rộng lớn của nhân vật trữ tình. Nhà thơ đã rất khéo léo khi ví von tâm hồn mình như một con tàu đang mở hết tốc lực về với nhân dân, đất nước.
  • Tây Bắc là tên gọi cụ thể chỉ địa danh ở một vùng đất xa xôi của Tổ quốc nhưng còn là một biểu tượng cho cuộc sống lớn lao của nhân dân và đất nước.
  • Tây Bắc chính là cội nguồn cảm hứng của hồn thơ, của sự sáng tạo nghệ thuật. Vì thế, lời giục giã lên vùng núi Tây Bắc cũng là về với chính lòng mình, với những tinh cảm thiêng liêng, trong sáng, nghĩa tình gắn bó sâu nặng với nhân dân và đất nước.

Chín khổ thơ tiếp theo: mạch ngầm của hạnh phúc, niềm khao khát về với nhân dân, gợi lại những k niệm sâu nặng nghĩa tình trong những năm tháng kháng chiến.

  • Khung cảnh thiên nhiên cũng như con người Tây Bắc nay đã đổi thay.
  • Đến với Tây Bắc là đến với vùng đất thân yêu của tâm hồn mình, là cuộc hành trình về với Mẹ nhân dân – Mẹ Tổ quốc thân yêu.
  • Kỷ niệm về đồng bào các dân tộc ở vùng cao Tây Bắc được tác giả gợi lại qua hình ảnh của những con người cụ thể ( bà mẹ tóc bạc, người em nhỏ liên lạc, người anh du kích …).
  • Sự cưu mang, đùm bọc cùng với tình yêu thương chân thành của con người Tây Bắc nơi đây như đã tiếp thêm sức mạnh cho nhà thơ trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và để lại những kỷ niệm sâu sắc không thể nào quên.
  • Thể hiện rõ nét về niềm khao khát mãnh liệt và hạnh phúc lớn lao của nhà thơ khi trở về với nhân dân. Từ những kỷ niệm đầy ân tình với đồng bào vùng cao Tây Bắc, nhà thơ đã nâng lên thành những suy ngẫm, những chiêm nghiệm giàu sức khái quát và cả những chân lý được rút ra từ trải nghiệm của chính mình.
  • Nói về tình yêu nhưng nhà thơ lại hướng tới sự cắt nghĩa, sự lí giải để làm bừng sáng lên ý nghĩa của cả đoạn thơ. Chính tình yêu đã biến những miền đất xa xôi này trở lên thân thiết như quê hương ta, hoá thành máu thịt, tâm hồn ta.
  • Nói đến tình yêu và nỗi nhớ, Chế Lan Viên lại không ngại ngần diễn tả thật hóm hỉnh và sâu sắc mối quan hệ khăng khít và sự gắn bó chặt chẽ giữa những người đang yêu bằng những hình ảnh rực rỡ đầy sắc màu, mang đậm đà phong vị vùng cao.
  • Với nghệ thuật đặc sắc nhà thơ đã rất sáng tạo khi nói về nhân dân, nói về tình yêu con người, tình yêu cuộc sống. Các phép ẩn dụ nghệ thuật đều có tính đa nghĩa. Nhịp điệu thơ biến đổi một cách linh hoạt, vừa sôi nổi lại vừa da diết, lắng sâu.

Bốn khổ thơ cuối: Khúc hát lên đường sôi nổi, tin tưởng và đầy say mê

  • Tiếng gọi thân thương của đất nước, của nhân dân, của đời sống đã trở thành sự thôi thúc mãnh liệt, thành lời giục giã của chính lòng mình, thành nỗi khát khao cháy bỏng.
  • Những lời tự cổ vũ, lời động viên và khẳng định quyết tâm lên đường.
  • Nhà thơ đã mượn hình ảnh tượng trưng trong ca dao xưa để diễn tả vẻ đẹp cao quý của tâm hồn.
  • Bài học triết lý nhân sinh và quan điểm nghệ thuật đã được tác giả đặt ra trong những khổ thơ cuối: Hiện thực cuộc sống chính là mạch nguồn vô tận của cảm hứng sáng tác. Văn chương không thể nào tách rời với hiện thực. Hiện thực chính là cơ sở phát sinh cảm hứng trữ tình cách mạng…
  1. Kết bài
  • Nêu cảm nghĩ và nhận xét chung về bài thơ.
  • Mở rộng vấn đề bằng cảm xúc và những liên tưởng của cá nhân.

Sơ đồ tư duy bài thơ Tiếng Hát Con Tàu của Chế Lan Viên

Sơ đồ tư duy bài thơ tiếng hát con tàu của chế lan viên
Sơ đồ tư duy bài thơ tiếng hát con tàu của chế lan viên

Một số bài văn mẫu phân tích bài thơ Tiếng hát con tàu hay nhất

 

Văn mẫu tham khảo bài tiếng hát con tàu của chế lan viên
Văn mẫu tham khảo bài tiếng hát con tàu của chế lan viên

Phân tích bài thơ tiếng hát con tàu chế lan viên

(Bài văn mẫu số 1)

Chế Lan Viên tên thật là Phạm Ngọc Hoan, ông làm thơ từ năm 12 tuổi và năm 17 tuổi có tập thơ đầu tay là Điêu Tàn. Từ đây, Chế Lan Viên đã trở thành một trong những nhà thơ nổi tiếng trên diễn đàn thơ ca Việt Nam với nhiều tác phẩm vô cùng đặc sắc. Khi đó ông cùng với Hàn Mặc Tử, Quách Tấn và Yến Lan được người đương thời gọi là “Bàn Thành tứ hữu” của Bình Định. Trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp ông đã hăng hái tham gia cuộc chiến, cũng từ đó đánh dấu một bước ngoặt lớn trong cuộc đời cũng như trong sự nghiệp sáng tác của ông để hòa hợp với nhân dân với đất nước. Bài thơ “Tiếng hát con tàu” được ra đời ở thời kỳ vận động nhân dân miền xuôi lên miền núi khai hoang, xây dựng phát triển kinh tế vào những năm 1958 – 1960. Bài thơ chính là tiếng hát mê say của một tâm hồn được thoát khỏi cái tôi nhỏ bé để hòa chung với cái ta rộng lớn hơn của đất nước. Đồng thời đó cũng là nỗi nhớ, niềm biết ơn mảnh đất Tây Bắc – mảnh đất nặng nghĩa tình.

“Tây Bắc ư? Có riêng gì Tây Bắc

Khi lòng ta đã hoá những con tàu

Khi Tổ quốc bốn bề lên tiếng hát

Tâm hồn ta là Tây Bắc, chứ còn đâu”

Ngay trong những câu thơ đề từ, tác giả đã thể hiện được tư tưởng chủ đạo của bài thơ và tình cảm của mình. Câu hỏi tu từ mà ông đặt ra: “Tây Bắc ư, có gì riêng Tây Bắc” chính là tự hỏi lòng, nó chứa đựng những nỗi băn khoăn trong tâm trạng của nhà thơ nói riêng và của tầng lớp nghệ sĩ nói chung thời bấy giờ. Tây Bắc là một trong những vùng đất cách mạng quan trọng trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ, đã góp phần không nhỏ vào công cuộc đấu tranh bảo vệ đất nước của dân tộc ta. Khi hòa bình được lập lại, người miền xuôi lại muốn lên Tây Bắc để khai hoang, để xây dựng và phát triển kinh tế ở nơi đây. Bởi vậy tác giả đã có rất nhiều cảm xúc với mảnh đất thân thương này.

Thời điểm viết bài thơ này là lúc đất nước đã hòa bình và đang trong thời kỳ xây dựng và đổi mới đất nước. Do đó, Tổ quốc lúc này luôn vang vọng tiếng hát, tiếng hát xây dựng, tiếng hát khai hoang. Trong đó, hình ảnh con tàu chính là một hình ảnh nghệ thuật ẩn dụ có ý nghĩa tượng trưng cho ước mơ, niềm khát vọng vượt ra khỏi cuộc sống chật hẹp, quẩn quanh để đến với một cuộc sống rộng lớn hơn. Chế Lan Viên đã ví von tâm hồn mình như con tàu đang mở hết tốc độ để lao về phía nhân dân, để cùng lên miền đất Tây Bắc, cùng khai hoang lập nghiệp.

Tây bắc là một địa danh cụ thể, là cái nôi cách mạng trong thời kỳ kháng chiến. Và giờ đây trong thời bình nó lại đang dang tay đón nhận những con người mới, một cuộc sống mới. Nó chính là biểu tượng cho cuộc sống lớn lao của nhân dân của đất nước.

Tây Bắc cũng là hồn thơ và là nguồn cảm hứng sáng tạo cho của nhiều nhà thơ. Vì thế, lời giục giã lên Tây Bắc cũng chính là để nói với lòng mình, những tình cảm trong sáng, nghĩa tình gắn bó sâu nặng với mảnh đất thân thương này, muốn được lần nữa quay lại để tiếp tục sống và phát triển đất nước.

“Con tàu này lên Tây Bắc, anh đi chăng?

Bạn bè đi xa, anh giữ trời Hà Nội

Anh có nghe gió ngàn đang rú gọi

Ngoài cửa ô? Tàu đói những vành trăng”

Những câu thơ dạt dào cảm xúc và rất đỗi thân thương, câu hỏi nhẹ nhàng mà thiết tha, tình cảm. Con tàu đã chuyển mình đi lên Tây Bắc, anh có đi không? Chính là để hỏi những người bạn đồng hành, người đồng chí có muốn đi lên vùng đất xa xôi nơi Tây Bắc để thay đổi cuộc sống, để mở rộng tâm hồn mình và bỏ đi cái hạn hẹp của cái tôi, của thành phố. Câu hỏi giống như lời chia tay nhẹ nhàng, mỗi người một lựa chọn. Bạn bè đi xa còn anh ở lại để giữ trời Hà Nội, mỗi người một nhiệm vụ.

Tuy nhiên, tác giả vẫn đang tha thiết kêu gọi những người bạn đồng hành hãy cùng nhau đi, cùng đến vùng đất mới và cùng xây dựng một cuộc sống mới. Ở nơi ấy có tiếng gió ngàn đang vẫy gọi, mảnh đất rộng lớn, sơ khai ấy vẫn đang chờ đợi những con người mới từ xuôi lên để khai  hoang, để lập nghiệp…

Đặc biệt với câu thơ “Ngoài cửa ô, tàu đói những vành trăng” đây là một cách nói ẩn dụ đầy tính nghệ thuật. Tàu đói hay chính là tâm hồn tác giả đang “đói” sự sáng tạo, ông muốn đi, muốn lên Tây Bắc bởi đây là một mảnh đất rộng lớn, là nguồn cảm hứng thơ ca vô tận. Tác giả muốn được trải nghiệm, được thử sức và được sống hết mình vì nghệ thuật.

“Đất nước mênh mông, đời anh nhỏ hẹp

Tàu gọi anh đi, sao chửa ra đi?

Chẳng có thơ đâu giữa lòng đóng khép

Tâm hồn anh chờ gặp anh trên kia”

Câu hỏi tu từ trong khổ thơ này như càng nói lên sự tha thiết gọi mời bạn đồng hành. Đất nước mênh mông lắm, hãy cùng đi nào, đừng để cuộc đời tâm hồn mình phải bó buộc vào sự nhỏ hẹp. Nếu mãi chỉ ở dưới xuôi, ở mảnh đất này thôi thì làm sao có thể biết được rằng, đất nước mình mênh mông đến thế, tâm hồn này rộng lớn biết bao? Ở đây chẳng có thơ đâu, tâm hồn sẽ khép kín, nên phải đi thôi, đến với mảnh đất Tây bắc rộng lớn mới có thể dạt dào ý tưởng thơ ca, dạt dào cảm hứng sáng tạo:

“Trên Tây Bắc! Ôi mười năm Tây Bắc

Xứ thiêng liêng rừng núi đã anh hùng

Nơi máu rỏ tâm hồn ta thấm đất

Nay rạt rào đã chín trái đầu xuân”

Khổ thơ tiếp theo miêu tả vùng đất Tây Bắc, mảnh đất thiêng liêng với 10 năm nằm gai nếm mật, nuôi dưỡng biết bao cán bộ, chiến sĩ cách mạng, góp phần không nhỏ vào sự thành công của cuộc kháng chiến chống Mỹ. Khổ thơ như tái hiện lại thời kỳ kháng chiến đầy gian khổ, nơi máu rỏ thấm đất, nơi sinh ra những người anh hùng thầm lặng hy sinh. Giờ đây, khi gặp lại mảnh đất ấy như được hồi sinh, đã “rạt rào chín trái đầu mùa”.

Khổ thơ như đan xen giữa quá khứ và thực tại. Một thời là nơi thiêng liêng hùng dũng chiến đấu vì tổ quốc, giờ đây lại là nơi dang tay cưu mang những con người mang niềm khát vọng đổi mới với những hình ảnh đầy sức sống.

“Ơi kháng chiến! Mười năm qua như ngọn lửa

Nghìn năm sau, còn đủ sức soi đường

Con đã đi nhưng con cần vượt nữa

Cho con về gặp lại mẹ yêu thương”

Mười năm kháng chiến tưởng dài mà lại nhanh. Mới đó mà đã chớp qua như ngọn lửa, cháy mãi trong lòng mỗi người dân và cán bộ nơi đây. Và giờ đây, mảnh đất hùng thiêng ấy vẫn soi đường dẫn lối cho những con người mới. Sang đoạn thơ này, tác giả đã sử dụng ngôi “Con” cho thấy một tình yêu thương vô bờ bến với mảnh đất nghĩa tình Tây Bắc này. Tác giả tự coi mình là đứa con còn mảnh đất chính là người mẹ, là quê hương thứ hai của mình. Người con xa đất mẹ nhưng rồi cũng lại quay trở về để được yêu thương, được chở che. Mảnh đất Tây Bắc thiêng liêng, hùng vĩ là thế nhưng cũng ấm áp lạ thường, rất đỗi ân tình, luôn cưu mang những chiến sĩ cách mạng cả thời chiến lẫn thời bình.

“Con gặp lại nhân dân như nai về suối cũ

Cỏ đón giêng hai, chim én gặp mùa

Như đứa trẻ thơ đói lòng gặp sữa

Chiếc nôi ngừng bỗng gặp cánh tay đưa”

Ở khổ thơ này tác giả đã nói về sự đoàn tụ của mình với người dân Tây Bắc. Đó là niềm vui không thể nào nói lên lời, là niềm hạnh phúc khôn nguôi, như đang trở về máu thịt. Lúc này đây, trở lại với Tây Bắc như “nai về suối cũ”, như “cỏ đón giêng hai”, như “chim én gặp mùa”, như “đứa trẻ đói lòng gặp sữa mẹ” hay như “chiếc nôi ngừng bỗng gặp cánh đưa”.

Gặp lại Tây Bắc đúng như đang nắng hạn lại gặp được mưa, tâm hồn đang khô cằn nay bỗng trở lên tươi mới, tràn đầy sức sống. Tây Bắc đã truyền thêm ngọn lửa sống cho tâm hồn của những con người mới.

“Con nhớ anh con, người anh du kích

Chiếc áo nâu anh mặc đêm công đồn

Chiếc áo nâu suốt một đời vá rách

Đêm cuối cùng anh cởi lại cho con”

Ở những khổ thơ tiếp theo nỗi nhớ như ùa về. Nỗi nhớ cũng xen lẫn cùng với những đau thương. Từ nỗi nhớ của tác giả nhắc đến mà người đọc hình dung được những gian khó vất vả trong thời kỳ kháng chiến và tình cảm, tình anh em, tình đồng chí mới khăng khít, sâu nặng làm sao.

Khổ thơ nói về những nỗi nhớ người lính du kích, một người anh đáng kính. Người lính ấy đã anh dũng hy sinh trong chiến trận, những tình cảm nỗi nhớ ấy dành cho người lính ấy vẫn không nguôi. Cuộc sống người lính đầy khó khăn vất vả hiện lên trong câu thơ: “Chiếc áo nâu một đời vá rách”. Đó là những người lính từ mọi miền tổ quốc, từ những vùng quê nghèo, nghe theo tiếng gọi trái tim, tiếng gọi của đồng bào để lên đường đấu tranh, bảo vệ Tổ quốc. Đọc câu thơ này chúng ta liên tưởng đến câu thơ trong bài thơ Đồng Chí của Chính Hữu: 

“Quê hương anh  nước mặn đồng chua

Làng tôi nghèo đất cày lên sỏi đá”.

 Những người lính cùng hoàn cảnh nghèo khó với nhau, đều là những người từ vùng quê nghèo, từ nơi ruộng đồng và một lòng chung ý tưởng.

Và nỗi nhớ như trào dâng vào đêm cuối cùng, người lính ấy đã gửi lại chiếc áo nâu với đầy kỉ niệm.

“Con nhớ em con, thằng em liên lạc

Rừng thưa em băng, rừng rậm em chờ

Sáng bản Na, chiều em qua bản Bắc

Mười năm tròn! Chưa mất một phong thư”

Nỗi nhớ trải dài tiếp tục với nỗi nhớ về người em liên lạc, hình ảnh một cậu bé liên lạc nhỏ bé, băng rừng, vượt suối, không hề nao núng, không sợ hiểm nguy. Và cậu bé liên lạc ấy vẫn luôn làm tròn trách nhiệm của mình, mười năm chưa mất một phong thư nào. Câu thơ trữ tình nhưng trong đó đã thể hiện được sự tự hào của tác giả đối với em bé liên lạc năm nao. Đồng thời cho thấy đó là hình ảnh của một em bé liên lạc vô cùng dũng cảm tựa như Lượm của Tố hữu:

“Vụt qua mặt trận

Đạn bay vèo vèo

Thư đề Thượng khẩn

Sợ chi hiểm nghèo”

Không chỉ là người lính, là hình ảnh của những em bé liên lạc còn rất nhỏ tuổi nhưng dũng cảm mà còn là tình cảm của các mế (mẹ), những người đã nuôi, đã cưu mang bộ đội như con đẻ của mình.

“Con nhớ mế! Lửa hồng soi tóc bạc

Năm con đau, mế thức một mùa dài

Con với mế không phải hòn máu cắt

Nhưng trọn đời con nhớ mãi ơn nuôi”

Mế không phải là mẹ ruột của các chiến sĩ cách mạng, nhưng nuôi con như những đứa con đẻ của mình. Những năm tháng nếm mật nằm gai ở Tây Bắc ấy, nếu không có bàn tay che chở, bao bọc của mế thì làm sao có được thành công của ngày hôm nay. Những câu chuyện, hình ảnh của mế được tái hiện lại đầy đủ, rõ nét đó là khi con đau “mế thức cả mùa dài”. Mế thương yêu con như con đẻ, tuy không phải là hòn máu cắt nhưng tác giả cũng như những người lính cụ Hồ trọn đời sẽ không bao giờ quên.

Hình ảnh của mế trong bài thơ đã khiến chúng ta liên tưởng tới hình ảnh những người mẹ đã cưu mang bộ đội ta trong “Bầm ơi” của Tố hữu:

“Bao bà cụ từ tâm như mẹ

Yêu quý con như đẻ con ra

Cho con nào áo nào quà

Cho củi con sưởi, cho nhà con ngơi.”

Trong cuộc kháng chiến chống thực dân, các chiến sĩ cách mạng của ta có thể chiến thắng được kẻ thù là nhờ một phần công ơn nuôi dưỡng, cưu mang của những người mẹ phương xa. Các bà, các mế tuy không sinh ra nhưng vẫn thương bộ đội như con đẻ của mình, cho ăn, cho nghỉ, cho quà. Tình cảm này cả đời cũng không thể nào quên.

“Nhớ bản sương giăng, nhớ đèo mây phủ

Nơi nào qua, lòng lại chẳng yêu thương?

Khi ta ở, chi là nơi đất ở

Khi ta đi, đất đã hoá tâm hồn!”

Đây là một khổ thơ rất hay và ý nghĩa. Ngoài nỗi nhớ về các đồng chí, những người anh em, các mế mà còn nỗi nhớ về bản làng. Nỗi nhớ này là nỗi nhớ quê hương, là nơi đã cưu mang bộ đội, cán bộ của ta trong những năm tháng kháng chiến gian khổ. Mảnh đất này chính là quê hương thứ hai của họ, cũng chính là tâm hồn nhà thơ. Câu thơ vẽ lên một khung cảnh về bản làng sương giăng là đèo mây phủ và đi đến đâu, đến nơi nào cũng lại thấy yêu thương.

“Anh bỗng nhớ em như đông về nhớ rét

Tình yêu ta như cánh kiến hoa vàng

Như xuân đến chim rừng lông trở biếc

Tình yêu làm đất lạ hoá quê hương

Anh nắm tay em cuối mùa chiến dịch

Vắt xôi nuôi quân em giấu giữa rừng

Đất Tây Bắc tháng ngày không có lịch

Bữa xôi đầu còn toả nhớ mùi hương”

Xen lẫn trong nỗi nhớ về người đồng chí đồng đội, người anh em, người mẹ và quê hương đó là nỗi nhớ về tình yêu với người con gái Tây Bắc. Ai đã yêu hẳn sẽ cảm nhận rõ nỗi nhớ tình yêu nó da diết đến thế nào. Nỗi nhớ như quy luật cuả đất trời “đông về nhớ rét”, một nỗi nhớ da diết trào dâng.

Nghĩ đến em khiến cho nỗi nhớ lại càng nhân lên, tình yêu của hai ta đẹp và hạnh phúc tựa như “cánh kiến hoa vàng”, như “xuân đến chim rừng lông trở biếc” và tình  yêu đó đã khiến cho mảnh đất xa lạ cũng hóa thành quê hương.

Nỗi nhớ về tình yêu đôi lứa cùng xen lẫn với trách nhiệm của người lính trong kháng chiến. Cả hai cùng nhau trải qua mùa chiến dịch, cùng nhau chia ngọt sẻ bùi, cùng nhau trải qua gian khó. Câu thơ “ Vắt xôi em nuôi quân em giấu giữa rừng” cho thấy những tháng năm kháng chiến đầy gian khổ, có sự chăm sóc của bàn tay người em gái cũng đã đủ làm ấm trái tim những người chiến sĩ.

“Đất nước gọi ta hay lòng ta gọi?

Tình em đang mong, tình mẹ đang chờ

Tàu hãy vỗ giùm ta đôi cánh vội

Mắt ta thèm mái ngói đỏ trăm ga”

Tiếng gọi từ Tây Bắc vọng lên là tiếng gọi của đất nước hay chính là tiếng gọi của lòng ta? Câu hỏi tu từ cũng như là câu trả lời. Đó là lời gọi từ đất nước thân yêu cũng là lời gọi từ lòng ta. Ta cũng khao khát được trở về với mảnh đất yêu thương ấy một lần nữa, để gặp lại em, gặp lại mẹ, để được sum họp trong yêu thương. Dường như, họ đã mong mỏi chuyến đi này lắm rồi, vậy nên mới nhờ “Tàu hãy vỗ giùm ta đôi cánh vội”, “Mắt ta thèm mái ngói đỏ trăm ga”.

“Mắt ta nhớ mặt người, tai ta nhớ tiếng

Mùa nhân dân giăng lúa chín rì rào

Rẽ người mà đi, vịn tay mà đến

Mặt đất nồng nhựa nóng của cần lao

Nhựa nóng mười năm nhân dân máu đổ

Tây Bắc ơi, người là mẹ của hồn thơ

Mười năm chiến tranh, vàng ta đau trong lửa

Nay trở về, ta lấy lại vàng ta

Lấy cả những cơn mơ! Ai bảo con tàu không mộng tưởng?

Mỗi đêm khuya không uống một vầng trăng

Lòng ta cũng như tàu, ta cũng uống

Mặt hồng em trong suối lớn mùa xuân”

Bốn khổ thơ cuối cùng của bài thơ chính là khúc hát lên đường sôi nổi, tin tưởng và đầy say mê. Tiếng gọi của đất nước, của nhân dân đã thôi thúc sự mãnh liệt, thành lời giục giã của chính lòng mình và thành nỗi khát khao cháy bỏng. Tác giả vẫn nhớ rõ như in hình ảnh của những người dân Tây Bắc, vẫn nhớ cái âm thanh quen thuộc ấy. Mảnh đất tươi đẹp ấy bây giờ đã đổi thay, mùa xuân đã giăng khắp lối những ở đaau đó vẫn còn “nhựa nóng của cần lao”.

Trong nỗi nhớ và niềm khát khao hiện tại, tác giả vẫn không thể nào quên được những năm tháng chiến đấu khi xưa, khi mà nhân dân ta phải đổ máu để đổi lấy tự do. Tây Bắc ơi “Mười năm chiến tranh, vàng ta đau trong lửa”. Cái vàng ấy chính là tinh thần, là khát vọng của những người chiến sĩ. Giờ đây ta quay trở lại để lấy lại tinh thần ấy, tinh thần sắt son, quật cường, bất khuất và trái tim gắn bó với mảnh đất Tây Bắc này.

Trong 3 khổ thơ cuối, hai khổ thơ phía trên là sự tái hiện về chiến tranh xen lẫn với thực tại. Thực tại hạnh phúc nhưng không có nghĩa là ta quên đi những năm tháng gian khổ. Mười năm nếm mật nằm gai không thể quên, để luôn biết trân trọng những hy sinh của người anh, người em. Và giờ đây ta quay trở lại Tây Bắc để tiếp tục xây dựng đất nước, để trái tim và tâm hồn ta thêm mở rộng hơn.

Hình ảnh con tàu được xuất hiện trong khổ cuối để càng nhấn mạnh tâm hồn của nhà thơ luôn khao khát được đến Tây bắc, khao khát thoát khỏi cái thực tại gò bó để mở hồn mình rộng hơn đến tương lai. Đây cũng chính là bài học triết lý nhân sinh và quan điểm nghệ thuật của Chế Lan Viên. Hiện thực chính là nguồn mạch vô tận của cảm hứng sáng tác. Văn chương không thể nào tách rời hiện thực. Hiện thực chính là thứ làm ta phát sinh cảm hứng trữ tình cách mạng.

Thơ của Chế Lan Viên giàu chất trí tuệ và đậm đà trữ tình. Đọc thơ của ông người đọc vừa cảm nhận được cái tình trong đó cũng như triết lý nhân sinh quan sâu sắc. Thông qua bài thơ này ta càng hiểu được rằng, con người không nên chỉ sống cho một cái tôi hạn hẹp mà cần phải biết hạ cái tôi đó xuống để cái ta ngày càng phát triển và trở lên mạnh mẽ hơn nữa.

Văn mẫu tham khảo bài tiếng hát con tàu của chế lan viên
Văn mẫu tham khảo bài tiếng hát con tàu của chế lan viên

Phân tích bài thơ tiếng hát con tàu của chế lan viên

(Bài văn mẫu số 2)

Chế Lan Viên là một nhà thơ lớn trong nền văn học Việt Nam hiện đại. Con đường sáng tác của nhà thơ đã trải qua nhiều thăng trầm với những bước ngoặt lớn trong phong cách nghệ thuật và tư tưởng chủ đạo, không còn là một thế giới kinh dị, huyền bí trong “Điêu tàn”, sau năm 1945, ông đã rẽ hướng và tập trung khai thác về đề tài con người và đất nước trong kháng chiến. Thơ của Chế Lan Viên mang đậm vẻ đẹp trí tuệ và giàu tính suy tư triết lý với những hình ảnh thơ đa dạng, phong phú và đầy sức sáng tạo.

Bài thơ“Tiếng hát con tàu” được rút ra từ tập Ánh sáng và phù sa, được lấy cảm hứng từ một sự kiện kinh tế – chính trị, xã hội có ý nghĩa vô cùng lớn lao đó là: Cuộc vận động đồng bào miền xuôi lên miền núi Tây Bắc để xây dựng kinh tế vào những năm 1958 – 1960. Bài thơ chính là sự kết tinh xuất sắc giữa tư tưởng và nghệ thuật của Chế Lan Viên trong sự nghiệp thơ ca cách mạng của mình.

Những câu thơ trong lời đề từ cất lên nỗi lòng thổn thức, lay động lòng người đọc, nó đã thể hiện được tư tưởng chủ đạo xuyên suốt bài thơ:

“Tây Bắc ư? Có riêng gì Tây Bắc
Khi lòng ta đã hoá những con tàu
Khi Tổ quốc bốn bề lên tiếng hát
Tâm hồn ta là Tây Bắc chứ còn đâu”

Câu hỏi tu từ vang lên thật nhẹ nhàng “Tây Bắc ư?” nhưng nó chứa đựng nỗi trăn trở, băn khoăn của nhà thơ trước tình cảnh đất nước đang lâm nguy. Tiếng gọi của Tổ quốc cứ vang vọng mãi bên tai và tâm hồn Chế Lan Viên giờ đây chỉ còn là tiếng gọi của Tây Bắc xa xôi kia, ông chẳng còn quản khó khăn, cũng chẳng sợ những hiểm nguy rình rập bởi vì trái tim đã hoà chung nhịp đập với Tổ quốc, bởi lòng ông đã “hoá những con tàu”.

Hai khổ thơ mở đầu đã vang lên những lời thơ như thúc giục, như rộn rã hơn, ngôn từ thật tha thiết, những câu hỏi ngày càng dồn dập như đang xoáy sâu vào trong lòng tác giả nói riêng và trong thế hệ văn nghệ sĩ nói chung:

“Con tàu này lên Tây Bắc, anh đi chăng?
Bạn bè đi xa, anh giữ trời Hà Nội
Anh có nghe gió ngàn đang rú gọi
Ngoài cửa ô? Tàu đói những vành trăng
Đất nước mênh mông, đời anh nhỏ hẹp
Tàu gọi anh đi, sao chửa ra đi?
Chẳng có thơ đâu giữa lòng đóng khép
Tâm hồn anh chờ gặp anh trên kia”

Hình ảnh ẩn dụ của “con tàu” mang ý nghĩa biểu trưng cho niềm khát vọng, hoài bão lớn lao đang tuôn chảy trong lòng hàng triệu người dân Việt Nam ta khi ấy. Tiếng con tàu vút cao lên như lời kêu gọi đầy mạnh mẽ, nồng nhiệt của Chế Lan Viên. Biện pháp tu từ nhân hoá “Tàu đói những vành trăng” thật biểu cảm và sinh động, “vành trăng” hình ảnh thiên nhiên thật đẹp, thật thơ mộng, trữ tình cũng là biểu tượng cho ánh sáng, cho niềm tin và hy vọng dạt dào về chiến thắng vang dội trong một tương lai không xa. Động từ “đói” đã gợi cho người đọc bao suy ngẫm, đất nước đang rất cần sự đồng lòng, sự đoàn kết trong nhân dân, dám dấn thân sẵn sàng hy sinh để xây dựng Tổ quốc ngày càng vững mạnh hơn. Tây Bắc – một địa danh cụ thể xa xôi, một nơi đầy hiểm trở, nguy hiểm cũng là một hình ảnh biểu trưng cho đất nước, Tây Bắc là cội nguồn làm lên linh hồn của bài thơ, của sự sáng tạo nghệ thuật dạt dào. “Đất nước mênh mông, đời anh nhỏ hẹp”, tác giả đã khéo léo sử dụng nghệ thuật đối lập tương phản gợi lên sự trăn trở, day dứt trong lòng mỗi độc giả. Ta đang sống dưới sự chở che của thiên nhiên, sự bao bọc của Tổ quốc nhưng có khi nào ta giật mình nhìn lại  và tự đặt câu hỏi “Mình đã làm được gì cho đất nước, cho Tổ Quốc hay chỉ sống một cuộc đời vô nghĩa “lòng đóng khép” với thế sự ngoài kia?”

Niềm hạnh phúc dâng trào, niềm vui sướng biết bao khi trở về với vòng tay quê hương được nhà thơ tái hiện lại thật chân thành, mộc mạc trong chín khổ thơ tiếp theo, qua đó gợi nhớ về những kỷ niệm tươi đẹp, gắn bó với nhau thuở kháng chiến:

“Trên Tây Bắc! Ôi mười năm Tây Bắc
Xứ thiêng liêng rừng núi đã anh hùng
Nơi máu rỏ tâm hồn ta thấm đất
Nay dạt dào đã chín trái đầu xuân
… Anh nắm tay em cuối mùa chiến dịch
Vắt xôi nuôi quân em giấu giữa rừng
Đất Tây Bắc tháng ngày không có lịch
Bữa xôi đầu còn toả nhớ mùi hương.”

Con người, khung cảnh thiên nhiên nay đã đổi thay, mười năm kháng chiến đã đi qua “như ngọn lửa” rạo rực, vẫn còn đang bùng cháy trong lòng tác giả. Có lẽ lúc này, tâm hồn cần được nghỉ ngơi, cần sự an ủi bởi bàn tay gia đình cho nguôi đi nỗi nhớ thương chất chứa trong lòng bao năm, “Cho con về gặp lại mẹ yêu thương”. “Mẹ” ở đây ngoài là người đã mang nặng đẻ đau, thì cũng có thể là người mẹ thiên nhiên, mẹ Tổ quốc thân thương. Biết bao nhiêu kỷ niệm vùng Tây Bắc vẫn in sâu trong tâm trí tác giả, hình ảnh “người anh du kích”, “thằng em liên lạc” hay “người mẹ tóc bạc”, nhớ “bản sương giăng”, nhớ cả “đèo mây phủ”, những hình ảnh ấy thật cụ thể, sự liên tưởng sâu sắc. Tình yêu thương sâu nặng, sự che chở và đùm bọc của đồng bào nơi đây như đã tiếp thêm sức mạnh cho những người chiến sĩ vững vàng tiến bước trong công cuộc xây dựng bảo vệ Tổ quốc.

Bằng sự nhạy cảm của mình Chế Lan Viên cũng đã khám phá ra một quy luật rất đặc biệt trong suy nghĩ của con người: “Khi ta ở chỉ là nơi đất ở/Khi đi đất bỗng hoá tâm hồn”. Thuở đầu đặt chân tới vùng đất mới, mọi thứ hoàn toàn xa lạ, đất cũng chỉ đơn giản là nơi ta sinh sống, tồn tại. Nhưng lâu dần, mảnh đất ấy trở lên gần gũi thân thuộc, từng cái cây ngọn cỏ, từng dáng vẻ con người đã hằn sâu trong trái tim ta thật sâu sắc, khó phai nhoà và trở thành một phần trong mảnh ghép “tâm hồn” những con người xa xứ. Sự chuyển hoá lạ kỳ ấy không phải tự nhiên mà có, mà nó đã xuất phát từ tình yêu thương, gắn bó, sự đồng cảm của tâm hồn, biến một vùng đất lạ lẫm trở thành quê hương thứ hai của mọi người.

Tình yêu trong thơ của Chế Lan Viên chẳng phải là thứ tình cảm lứa đôi đơn lẻ mà nó còn hoà mình vào cùng tình yêu thương đất nước, quê hương. Anh nhớ em! Một nỗi nhớ dạt dào, da diết “như đông về nhớ rét”, gắn bó keo sơn, đẹp đẽ và đầy thơ mộng “như cánh kiến hoa vàng”. Tình anh và em thắm thiết, nồng nàn, cháy bỏng trong sự chứng kiến của núi rừng Tây Bắc, chỉ cần nắm tay cùng nhau đi qua biết bao mùa chiến dịch. Tình yêu ta đã hoá miền đất xa lạ ấy trở thành nơi thân quen, gần gũi như quê hương máu thịt, tâm hồn. Bằng ngòi bút tài hoa với đậm chất nghệ sĩ lãng mạn của mình, Chế Lan Viên đã không ngần ngại diễn tả tình yêu của mình với sự hóm hỉnh sâu lắng, sự khăng khít, thuỷ chung với những hình ảnh rực rỡ đầy sắc màu, mang đậm dư vị của núi rừng vùng cao Tây Bắc.

Tiếng gọi của Tổ quốc một lần nữa lại vang lên mạnh mẽ, người chiến sĩ lên đường ra chiến trận không một giây đắn đo suy nghĩ, anh đi mang theo một gánh nặng trọng trách trên vai “Đất nước gọi hay lòng ta gọi?”, cả niềm tin yêu nơi hậu phương cũng đang mong chờ “Tình em đang mong, tình mẹ đang chờ”. Tác giả đã mượn hình ảnh trong ca dao để miêu tả nét đẹp thanh cao, trong sáng trong tâm hồn, “vàng” vừa cao quý lại vừa sắt son kiên cường trước ngọn lửa hung tàn, không hề nao núng, vẫn luôn vẹn nguyên ý chí thuở ban sơ của mình.

“Tiếng hát con tàu” của Chế Lan Viên là một bài thơ vô cùng đặc sắc để lại giá trị to lớn cho nền thơ ca Việt Nam. Bài thơ nói lên tiếng lòng trăn trở, tha thiết của tác giả trong công cuộc xây dựng, bảo vệ Tổ quốc, mong muốn được hoà nhập mình với nhân dân, với cuộc đời. Hình ảnh “con tàu” chở bao nhiêu khát khao, hy vọng của Chế Lan Viên đến  với vùng đất Tây Bắc xa xôi, nơi đây cũng chính là mảnh đất màu mỡ đã nuôi dưỡng chất thơ trong tâm hồn tác giả.

bài văn phân tích tác phẩm tiếng hát con tàu
Bài văn phân tích tác phẩm tiếng hát con tàu

Bài văn phân tích tác phẩm tiếng hát con tàu chế lan viên

(Bài văn mẫu số 3)

Chắc hẳn những người yêu thơ Việt Nam không ai là không biết đến Chế Lan Viên. Thơ của Chế Lan Viên có phong cách độc đáo: nó mang vẻ đẹp trí tuệ, luôn có ý thức khai thác triệt để những tương quan đối lập và giàu chất suy tưởng triết lý với thế giới, có hình ảnh đa dạng phong phú, đầy sáng tạo. Tập thơ xuất sắc nhất, kết tinh tư tưởng và nghệ thuật thơ của Chế Lan Viên trên con đường thơ ca cách mạng là tập “Ánh sáng và phù sa”(1960). Và “Tiếng hát con tàu” là bài thơ được rút từ tập thơ này.

“Tiếng hát con tàu” được lấy cảm hứng từ một sự kiện kinh tế – chính trị, xã hội đó là: cuộc vận động đồng bào miền xuôi lên xây dựng kinh tế ở vùng miền núi Tây Bắc vào những năm 1958 – 1960. Bài thơ trước hết đã gây ấn tượng bởi bốn câu lời đề từ:

“Tây Bắc ư? Có riêng gì Tây Bắc

Khi lòng ta đã hóa những con tàu

Khi Tổ quốc bốn bề lên tiếng hát

Tâm hồn ta là Tây Bắc, chứ còn đâu”

Xuất hiện ngay sau nhan đề bốn câu thơ làm lời đề từ ấy thể hiện tư tưởng, cảm xúc bao trùm lên toàn tác phẩm. Với lối kết cấu là một khổ thơ hỏi – đáp, lời đề từ đã tỏ rõ niềm khát vọng đi xa, đi đến bất cứ nơi đâu khi Tổ quốc cần. “Tây Bắc” trong khổ thơ vừa để chỉ một địa danh vừa để tượng trưng cho những vùng đất xa xôi của đất nước. “Con tàu” chính là biểu tượng cho khát vọng đi xa ấy để hiến dâng, phục vụ. Những lời mời gọi lên tàu như là để vận động cho khát vọng ấy.

Tác giả đã rất khóe léo khi sử dụng những câu hỏi tu từ vừa tăng tính hối thúc giục giã, vừa thể hiện được sự bâng khuâng không biết đi hay ở: “Con tàu này lên Tây Bắc anh đi chăng?”. Câu hỏi tu từ này vừa để hỏi chính tác giả cũng vừa để hỏi mọi người. Sau khi hỏi, nhà thơ lại đưa ra một hoàn cảnh đối lập: “bạn bè đi xa anh giữ trời Hà Nội”.

Nhưng với quan niệm:”chẳng có thơ đâu giữa lòng đóng khép” nhà thơ Chế Lan Viên đã khẳng định được mối quan hệ giữa văn học và cuộc đời. Văn học là phải gắn liền với cuộc đời, vì vậy ta phải mở lòng với cuộc đời. Sau một hồi đắn đo băn khoăn lên tàu đến với Tây Bắc, cảnh sắc và mảnh đất Tây Bắc đã như hiện ra trước mắt người đọc.

Nhà thơ đã dùng ngòi bút tài hoa của mình để ngợi ca “xứ thiêng liêng rừng núi đã anh hùng”. Mảnh đất đã thấm đẫm “máu rỏ” này một lần nữa hồi sinh trở lại “chín trái đầu xuân”. Một sự sống mới được bắt đầu sau mười năm kháng chiến. “Mười năm qua như ngọn lửa”. Tác giả đã so sánh mười năm ấy như ngọn lửa nối sáng không chỉ  cho dân tộc Việt Nam mà còn soi đường đi đến thắng lợi.

Ngọn lửa ấy sẽ mãi trường tồn vĩnh cửu với thời gian: “nghìn năm sau, còn đủ sức soi đường”. Một hình ảnh đặc biệt xuất hiện trong khổ thơ này là “Mẹ yêu thương”. Mẹ ở đây ngoài là người đã mang nặng đẻ đau thì cũng chính là mảnh đất Tây Bắc, là những bà mẹ Việt Bắc, bà mẹ của Tổ quốc. Cách xưng hô “con” đã thể hiện được sự kính trọng và khát vọng, niềm mong muốn trở về với nhân dân của tác giả.

Một trong những nét đặc sắc trong nội dung của bài thơ này đó chính là khái niệm “nhân dân”. Dưới lời thơ của Chế Lan Viên, thì  “nhân dân” đã hiện lên thật gần gũi. Trước hết là một loạt những hình ảnh so sánh liên tiếp: dòng suối mát lành đón “nai về suối cũ”, hơi ấm của mùa xuân cho cỏ rụi bật mầm, ánh thiều quang cho bầy én bay lượn, dòng sữa ngọt ngào cho bé thơ đói lòng và cánh tay nhẹ nhàng đưa nôi mềm cho giấc ngủ say.

Những hình ảnh rất đỗi thân thuộc này đã khiến cho khái niệm “nhân dân” trừu tượng đã trở lên dễ hiểu hơn. Nhân dân vừa là vật chất và vừa là tinh thần. Trở về với nhân dân là điều hoàn toàn hợp lý, đúng lẽ tự nhiên. Mặc dù đoạn thơ giàu chất triết lý và đậm chất trí tuệ nhưng không những không khô khan mà lại còn giàu hình ảnh.

Nhân dân còn được miêu tả bởi là những con người quen thuộc: “người anh du kích” đã nhường cơm xẻ áo, là “mế” – những bà mẹ Việt Nam anh hùng, người mẹ nuôi cán bộ “mùa dài”; hay là “người em liên lạc” mưu trí dũng cảm. Nhân dân là những con người sống đầy nghĩa tình thủy chung.

Trong tác phẩm này, nhà thơ còn nêu ra một triết lý đó là nỗi nhớ trong tình yêu. Trong tình yêu, nỗi nhớ như quy luật tự nhiên của đất trời như “đông về nhớ rét”. Tình yêu đẹp đẽ và cao quý như “cánh kiến hoa vàng”. Tình yêu còn có khả năng làm cho con người thay đổi “như xuân đến chim rừng lông trở biếc”. Tình yêu ấy còn có một khả năng diệu kỳ hơn đó chính là “đất lạ hóa quê hương”.

Tình yêu có thể khiến một con người yêu lấy một mảnh đất hoàn toàn xa lạ và yêu như chính quê hương của mình. Trong thơ của Chế Lan Viên luôn chứa đựng những triết lý như thế. Không chỉ là nỗi nhớ trong tình yêu nhà thơ còn nhớ đến cảnh vật, những cảnh vật quen thuộc mang đậm nét đặc trưng của vùng đất Tây Bắc:

“Nhớ bản sương giăng, nhớ đèo mây phủ

Nơi nao qua, lòng lại chẳng yêu thương?

Khi ta ở, chỉ là nơi đất ở

Khi ta đi, đất đã hóa tâm hồn”

Bằng nỗi nhớ này, tác giả còn thể hiện cái khát vọng trở về với nhân dân, trở về với những kỷ niệm đầy nghĩa tình để đền ơn đáp nghĩa. Khổ thơ cuối kết thúc bài thơ như một lời vận động:

“Lấy cả những cơn mơ!

Ai bảo con tàu không mộng tưởng?

Mỗi đêm khuya không uống một vầng trăng

Lòng ta cũng như tàu, ta cũng uống

Mặt hồng em trong suối lớn mùa xuân”

Tiếng gọi của đất nước, của nhân dân, của đời sống đã trở thành sự hối thúc bên trong, trở thành lời giục giã của chính lòng mình. Đến với Tây Bắc là về với chính mình “Nay trở về lấy lại lòng ta”. Đến với Tây Bắc là trở về với ngọn nguồn của hồn thơ, của cảm hứng sáng tạo: “Tây Bắc ơi, người là mẹ của hồn thơ”. Khổ thơ này được sử dụng nhiều hình ảnh ẩn dụ độc đáo làm cho nó càng thêm tính gợi hình và gợi cảm, có chiều sâu và chạm đến trái tim của người đọc.

Những lời thổ lộ, bọc bạch của Chế Lan Viên trong tác phẩm “Tiếng hát con tàu” đã hiện ra cho người đọc thấy được những hình ảnh tốt đẹp của miền núi Tây Bắc – nơi không chỉ có cảnh sắc và tình người, mà nơi ấy còn là cảm hứng của thi ca. Mang trong mình sức hấp dẫn, nét cuốn hút ấy, Tây Bắc là đại diện cho những vùng đất xa xôi nhưng tràn đầy hy vọng. Bằng nhiệt huyết của mình, nhà thơ Chế Lan Viên đã đưa người đọc đến gần với vùng đất Tây Bắc hơn và đã góp phần vận động họ xây dựng kinh tế ở nơi này.

 

XEM THÊM:

Soạn bài chi tiết tất cả các tác phẩm trong chương trình ngữ văn lớp 12