SOẠN BÀI PHÂN TÍCH TÁC PHẨM THUỐC CỦA LỖ TẤN

1032
Tác phẩm thuốc của lỗ tấn
Tác phẩm thuốc của lỗ tấn
5/5 - (1 bình chọn)

Nhắc đến Lỗ Tấnchúng ta nhớ ngay đến một nhà văn cách mạng tiên phong với việc sử dụng ngòi bút của mình để chĩa thẳng vào những thói hư tật xấu, những căn bệnh tinh thần của nhân dân Trung Quốc lúc bấy giờ, các bạn cùng tham khảo bài phân tích tác phẩm Thuốc dưới đây để rõ hơn về điều đó nhé!

Tham khảo thêm: Phân tích truyện ngắn Thuốc

1. Tham khảo bài tóm tắt thuốc của lỗ tấn

Lỗ tấn viết tác phẩm Thuốc vào tháng Tư năm 1919, thời kỳ này Trung Quốc đang ở chế độ phong kiến, nửa thuộc địa, người dân Trung Quốc đang tron thời kì vô cùng tăm tối và rất lạc hậu, “họ ngủ mê trong một cái nhà hộp bằng sắt không có cửa sổ” (tác giả Lỗ Tấn). Có hai câu chuyện khéo léo được lồng trong một cốt truyện: Chuyện nói về việc lấy thuốc của vợ chồng lão Hoa Thuyên và câu chuyện về người chiến sỹ cách mạng tên Hạ Du.

Lão Hoa khi còn là chủ một quán trà nhỏ, lão có đứa con trai mắc bệnh lao rất nặng, người ta đã mách cho lão một thứ thuốc rất kỳ quái đó là bánh bao tẩm máu người.

Câu truyện được bắt đầu bằng không khí vô cùng ảm đạm của buổi sáng lão Hoa bắt đầu đi mua thuốc cho con. Lão Hoa đi trong sự hồi hộp, lo âu và sự hy vọng. Đoàn người đi xem cảnh hành hình cũng rất đông, chen mãi thì lão mới có thể mua được thuốc dù đã đặt trước, khi về nhà hai vợ chồng lão liền cho con ăn thuốc và trong lòng tràn đầy hy vọng về sự hiệu nghiệm của liều thuốc kỳ quái này. Đám đông khi đi xem chém người về, vào quán trà của nhà lão Hoa và bàn luận rôm rả về người vừa bị chém. Tham gia trong cuộc bàn luận có đầy đủ các thành phần khác nhau như “người tóc hoa râm” đến cả “anh chàng hai mươi tuổi”. Qua câu chuyện của họ thì biết người bị chém có tên là Hạ Du, một người dám đứng lên và đi làm cách mạng, khi bị bắt anh ta còn rủ đề lao làm “giặc”. Những người bàn luận tổ ra rất ngạc nhiên về hành động của Hạ Du và cho rằng anh ta bị điên.

Vào một buổi sáng mùa xuân tại nghĩa địa hai bà mẹ đang ra thăm mộ con, bà Hoa Thuyên và mẹ của Hạ Du. Thuốc bánh bao có tẩm máu người đã không cứu được thằng Thuyên. Mộ nó chỉ nằm cách mộ của Hạ Du một con đường – đây chính là ranh giới tự nhiên giữa đám mộ của những người chết chém chết tù và những người chết vì nghèo. Bà Hoa bước qua con đường nhằm an ủi mẹ Hạ Du. Họ đã ngạc nhiên khi thấy trên nấm mộ Hạ Du lại có một vòng hoa màu trắng. Câu chuyện này kết thúc với câu hỏi của người mẹ “Thế này là thế nào?”. Qua tác phẩm này nhà văn muốn đề cập đến một vấn đề rất có ý nghĩa và vô cùng lớn đối với dân tộc Trung Hoa thời kì đó, đó chính là vấn đề cách mạng giải phóng cho cả dân tộc khỏi sự u mê, sự tăm tối.

2. Dàn ý chi tiết phân tích truyện ngắn Thuốc Lỗ Tấn

2.1. Nội dung trong phần mở bài

Giới thiệu khái quát về nhà văn Lỗ Tấn và tác phẩm Thuốc ( hoàn cảnh ra đời, nội dung, nghệ thuật…).

2.2. Nội dung triển khai trong phần thân bài

2.2.1. Ý nghĩa nhan đề tác phẩm và hình tượng chiếc bánh bao tẩm máu người

  • Thuốc ở đây là chiếc bánh bao được tẩm máu người mà người cha đã mua về cho cậu con trai ăn:
    •  Hiểu theo nghĩa đen thì chiếc bánh bao tẩm máu người đó là  thuốc có thể chữa khỏi bệnh lao. Đây là một phương thuốc dân gian thời bấy giờ nhưng không có cơ sở khoa học nào chứng minh nó hiệu quả cả, nó hoàn toàn lạc hậu, viển vông.
    • Hiểu theo nghĩa khác, thuốc ở đây là phương thuốc để điều trị sự u mê, ngu muội, lạc hậu về mặt khoa học của người dân Trung Quốc lúc bấy giờ.
    • Nó cũng là phương thuốc để chữa căn bệnh u mê, thiếu hiểu biết về mặt chính trị, về những người làm cách mạng của người dân.
  • Như vậy, chiếc bánh bao tẩm máu ấy không những không phải là thuốc chữa bệnh mà nó là thuốc độc khiến cho những căn bệnh trong tí não của người dân trở nên trầm trọng hơn.
  • Nỗi đau của tác giả khi chứng kiến nỗi đau của dân tộc được thể hiện ngay từ nhan đề của tác phẩm và hình tượng chiếc “bánh bao tẩm máu người”.

2.2.2. Cái chết của người lính cách mạng Hạ Du và thái độ của quần chúng

Cái chết của Hạ Du:

  • Nhân vật Hạ Du được phác họa lại thông qua lời kể của các nhân vật khác:
    • Hạ Du là một người lính, một chiến sĩ cách mạng tiên phong, đã anh dũng dám xả thân vì nhân dân, vì nghĩa lớn.
    • Nhưng không có ai hiểu được việc làm của anh, kể cả là người mẹ vì thế chẳng có ai đứng về phía anh. Anh đơn độc đổ máu vì nhân dân nhưng đổi lại, họ lại lấy máu của chính anh để chữa bệnh lao.

Nhận xét: Hạ Du là một người chiến sĩ cách mạng anh dũng nhưng lại rất cô đơn. Anh là biểu tượng của cuộc cách mạng Tân Hợi năm 1911, cuộc cách mạng ấy đã góp phần đánh đổ chế độ phong kiến đã thất bại nhưng do xa rời quần chúng nên.

Thái độ của người dân trước cái chết của Hạ Du:

  • Người dân tụ tập thành đám đông chen lấn nhau để xem hành hình người chiến sĩ cách mạng – Tử Du.
  • Khi trời sáng mọi người ở quán trà của lão Hoa đều bàn tán về cái chết của Tử Du, họ tỏ ra miệt thị, khinh bỉ anh.

Nhận xét: họ là những người mê muội, thiếu hiểu biết về những vấn đề chính trị, cách mạng của đất nước, họ “ngủ quên trong một cái nhà hộp bằng sắt không có cửa sổ”. Lỗ Tấn nhận định rằng “chữa bệnh thể xác không quan trọng bằng chữa bệnh tinh thần”.

2.2.3. Cảnh đi thăm mộ con của hai bà mẹ

Hạ Du và Thuyên mất vào mùa thu, trong tiết thanh minh của mùa xuân năm sau hai người mẹ đều đến thăm mộ. Cái chết của hai người họ như những chiếc lá thu rời cành để tích lại nhựa hi vọng. Nó thể hiện sự lạc quan, niềm tin của tác giả vào tương lai cách mạng, về nhận thức, sự hiểu biết của nhân dân.

Hình ảnh “con đường mòn nhỏ hẹp, cong queo, do những người hay đi tắt giẫm mãi thành đường” thể hiện sự lạc hậu trong tập quán, lối mòn trong suy nghĩ của người dân. Hình ảnh hai bà mẹ cùng bước trên con đường ấy nói lên sự đồng cảm, sự thấu hiểu vì tình thương con.

Hình ảnh vòng hoa đặt trên mộ của Hạ Du: đã có người đồng cảm và thấu hiểu việc làm của Hạ Du, điều đó lóe lên hi vọng vào cuộc cách mạng. Vòng hoa cũng thể hiện sự tiếc thương, biết ơn, trân trọng của Lỗ Tấn đối với người chiến sĩ cách mạng kiên cường, bất khuất.

2.3. Nội dung trong phần kết bài phân tích tác phẩm Thuốc

Khái quát lại giá trị nội dung, nghệ thuật và nêu lên cảm nhận của bản thân về tác phẩm.

3. Sơ đồ tư duy bài Thuốc của Lỗ Tấn

3.1. Tham khảo sơ đồ tư duy thuốc lỗ tấn (mẫu số 1)

sơ đồ tư duy thuốc lỗ tấn
Sơ đồ tư duy thuốc lỗ tấn

3.2. Sơ đồ tư duy bài thuốc (mẫu số 2)

sơ đồ tư duy bài thuốc
Sơ đồ tư duy bài thuốc

4. Bài văn mẫu phân tích tác phẩm Thuốc hay nhất

 

Thuốc lỗ tấn
Thuốc lỗ tấn

Soạn bài thuốc của lỗ tấn

(Bài văn mẫu số 1)

Vào những năm đầu của thế kỷ XX, bị sự thống trị của triều đại Mãn Thanh, cùng sự can thiệp thô bạo của đế quốc, nhân dân đất nước Trung Hoa rơi vào cảnh bế tắc, khủng hoảng và suy thoái một cách trầm trọng.  Dưới nền chính trị u ám, rối ren đã khiến cho mỗi người dân Trung Quốc rơi vào tình trạng bất an, lo sợ và còn khiến họ chìm sâu vào những u mê, ngu muội “ngủ quên trong một cái nhà hộp bằng sắt không có cửa sổ”. Chứng kiến cảnh ấy, Lỗ Tấn đã viết lên tác phẩm “Thuốc”, nó vẽ lên một bức tranh hiện thực đầy bi kịch nói về số phận của những chiến sĩ cách mạng, đồng thời vạch trần “căn bệnh tinh thần” của quần chúng, nhân dân.

Lỗ Tấn – một nhà văn cách mạng lỗi lạc của nền văn học Trung Quốc. Ông được sinh ra tại tỉnh Chiết Giang, Trung Quốc. Khi còn nhỏ ông đã phải chứng kiến người cha của mình chết vì không có thuốc chữa khi lâm bệnh, vì thế ông đã ôm ước mơ trở thành một thầy thuốc. Tuy nhiên, khi đang theo đuổi con đường y học, ông lại đột ngột chuyển hướng làm một nhà văn vì ông cho rằng “chữa bệnh thể xác không quan trọng bằng chữa bệnh tinh thần”. Trong các tác phẩm Lỗ Tấn đã không hề e ngại mà rất thẳng thắn phanh phui những thói hư, tật xấu, những lối suy nghĩ cổ hủ, lạc hậu của quần chúng nhân dân, để từ đó tìm ra “phương thuốc chạy chữa”, để tự mình vươn lên và gây dựng một dân tộc tự lực, tự cường. Lỗ Tấn tập trung tìm hiểu, khai phá những căn bệnh tinh thần đã khiến cho nhân dân u mê, ngu muội, tự thoải mãn và dần bị tha hoá. Với ngòi bút sắc sảo, tài hoa cùng thái độ tự phê phán nghiêm khắc, nhà văn đã viết lên những tác phẩm vô cùng xuất sắc, thấm đậm tính nhân văn cao cả. Lỗ Tấn viết truyện ngắn “Thuốc” vào năm 1919, vào thời kỳ phong trào chống đế quốc phong kiến bùng nổ, đây là phong trào đòi sự tự do dân chủ của học sinh, sinh viên Bắc Kinh. Nói về căn bệnh tinh thần ngu muội của quần chúng khiến những người cách mạng dần xa rời nhân dân. Tác phẩm này như hồi chuông cảnh báo, lời cảnh tỉnh cho nhân dân : “Người Trung Quốc cần suy nghĩ nghiêm túc về một phương thuốc để cứu lấy dân tộc”.

Nhan đề đề hết sức ngắn gọn và súc tích “Thuốc” của tác phẩm đã gây ấn tượng sâu sắc trong lòng người đọc. Chẳng phải là những từ hoa mỹ, cầu kỳ hay sâu xa nhưng nhan đề ấy đã phần nào nói lên được giá trị cốt lõi của toàn bộ tác phẩm với nhiều tầng ý nghĩa khác nhau. Nếu hiểu theo nghĩa đen “Thuốc” ở đây là một chiếc bánh bao tẩm máu người dùng để chữa bệnh ho lao. Nhưng máu người có thể chữa được căn bệnh này sao? Chưa có một cơ sở khoa học nào chứng minh điều đó cả, sao lại có thể tồn tại một lối suy nghĩ vừa quái dị, lạc hậu và đầy mê tín như vậy. Lỗ Tấn lại nhớ đến cái chết của cha mình, cũng là do sự mê tín, lạc hậu của một ông thầy lang đã bốc để chữa trị bệnh phù thủng. Bài thuốc đó là sự kết hợp giữa rễ cây mía đã kinh sương ba năm cùng một đôi dế đủ con đực, con cái, sự phản khoa học khi chữa bệnh đã dẫn đến cái chết của ông cụ. Cách chữa bệnh bằng những bài thuốc bí truyền đầy mê tín này của người dân, đã phần nào nói lên sự u mê, dốt nát  của xã hội Trung Quốc lúc bấy giờ.

Không chỉ dừng lại ở nghĩa tường minh đó, nhan đề của tác phẩm còn mang nghĩa ẩn ý sâu sắc mà tác giả đã khéo léo gửi gắm vào đó. “Thuốc” ở đây còn dùng để chữa căn bệnh tinh thần của nhân dân Trung Quốc. Đó là căn bệnh gia trưởng, căn bệnh mê muội và đầy sự lạc hậu về mặt khoa học. Bố mẹ thằng Thuyên cũng chỉ vì ngu muội, thiếu hiểu biết và gia trưởng nên đã tin tưởng vào một phương thuốc thật kinh dị đó là “chiếc bánh bao tẩm máu người”. Có lẽ Thuyên đã có thể sống sót nếu như được chữa trị đúng cách, đúng khoa học bởi vì lao là một căn bệnh hoàn toàn có thể chữa khỏi một cách dễ dàng. Nhưng đáng tiếc thay chính ba mẹ của Thuyên đã tự đẩy con mình vào ngõ cụt của sự sống. Đáng buồn hơn khi không chỉ có vợ chồng lão Hoa mà tất cả mọi người trong cái quán trà của họ đều tin vào cái điều phi lý hết sức ấy. Phương thuốc “Bánh bao tẩm máu người” mà mọi người coi là thần dươc ấy chẳng những không phải là thuốc chữa bệnh mà nó chính là thuốc “độc” đã lấy đi một mạng người.

Trong cái đất nước Trung Hoa đang đầy sự nguy khó, khốn cùng kia thì ngay từ trong chính quần chúng nhân dân nơi đây, họ đang mắc phải một căn bệnh tinh thần vô cùng nguy hiểm mà tưởng chừng như nguy kịch vô phương cứu chữa đó là “căn bệnh u mê, lạc hậu về chính trị”. Người dân tập trung thành đám đông chen lấn đi xem một người chiến sĩ cách mạng anh dũng bị xử tử, những họ lại cho rằng đó là một tên giặc và sẵn sàng mua máu của anh về làm thuốc. Người anh hùng gan dạ, dũng cảm dám dấn thân vào sự nghiệp bảo vệ đất nước, sẵn sàng đổ máu, sẵn sang hy sinh mình để đổi lấy sự tự do, độc lập cho nhân dân. Ấy vậy mà, nhân dân lại không ai hiểu việc anh làm, đến khi anh nằm xuống thì những con người ngu muội kia chẳng những không xót thương, trân trọng mà còn tỏ thái độ coi thường, khinh miệt. Lỗ Tấn vừa chỉ ra căn bệnh tinh thần của quần chúng nhân dân đồng thời cũng chỉ ra cái sai của người làm cách mạng, đó là họ đã xa rời nhân dân, không lấy nhân dân làm gốc, cũng chính vì thế mà đã làm cho đất nước của họ ngày càng chìm sâu vào bế tắc, người dân thì càng u mê, ngu muội trong lối suy nghĩ tầm thường, lạc hậu, cổ hủ. Có thể nói chỉ với cái nhan đề “Thuốc” thôi nó gần như đã gói trọn hết hiện thực của xã hội Trung Hoa lúc bấy giờ, là chủ đề tư tưởng bao quát toàn bộ tác phẩm, đồng thòi nó cũng nói lên nỗi băn khoăn, trăn trở, xót xa của tác giả trước tình cảnh đất nước đang rơi vào lâm nguy: Người dân thì không gắn bó, đồng hành với cách mạng, còn những người cách mạng thì lại “bôn ba trong chốn quạnh hiu”.

Mở đầu câu chuyện tác giả đã dẫn dắt người đọc đến với “Một đêm thu gần về sáng , lúc đó ngoài đường còn vắng lặng, ảm đạm không có lấy một bóng người “ngoài những giống đi ăn đêm, còn thì ngủ cả”. Nhưng lão Hoa đã dậy từ rất sớm, và rời khỏi nhà để đến pháp trường với hy vọng tìm được một thứ gọi là thần dược có thể cứu đứa con từ cõi chết trở về. Lão bước đi trên con đường tối om lạnh lẽo, nhưng lòng lão lại sảng khoái đến lạ lùng, lão thấy “bỗng dưng mình trẻ lại, và ai cho phép thần thông cải tử hoàn sinh”. Lão vui mừng như thế là bởi vì lão nghĩ tới việc lấy được thuốc và chữa khỏi bệnh cho đứa con trai duy nhất “mười đời độc đinh” đang mắc căn bệnh ho lao của lão ở nhà. Nhưng khi tới pháp trường, tận mắt trông thấy cái thứ “thần dược” ấy mà lão run lên sợ hãi, không dám đưa tay ra để cầm lấy “chiếc bánh bao nhuốm máu, đỏ tươi” đang nhỏ từng giọt ấy.

Thật sự đáng sợ, chỉ với một chiếc bánh được tẩm máu của người chết chém thì sao lại có thể trở thành một phương thuốc chữa bệnh? Một người chiến sĩ cách mạng anh dũng bị xử tử, nhưng họ lại coi anh là tội đồ nên không những không xót thương, mà họ còn dửng dưng mua bán đổi chác máu của anh. Lão Hoa nâng niu, bảo bọc và để cả tinh thần mình vào gói bánh mà được coi là thứ thần dược đó, bởi bây giờ tai lão chẳng còn nghe được điều gì nữa ngoài tiếng ho của con trai đang chờ lão quay về. Cái bánh bao loang lổ thấm đầy máu ấy được bà Hoa gói vào trong một chiếc lá sen già và nướng nó lên thành một thứ “tròn tròn, đen thui”. Vẫn luôn  một mực tin tưởng vào vị thuốc quái dị thần kỳ kia “Ăn đi con! Sẽ khỏi ngay”, Thôi con đi ngủ một giấc, sẽ khỏi ngay!. Tình yêu thương vô bờ bến với đứa con duy nhất của mình đã làm cho đôi vợ chồng già này trở lên mê muội, mù quáng, họ vừa đáng thương lại vừa đáng trách. Nhưng điều đáng buồn hơn là chẳng riêng gì vợ chồng lão Hoa mà tất cả mọi người trong cái quán trà nhỏ ấy đều tin vào vị thuốc phản khoa học kia, bác Cả Khang còn khẳng định chắc nịch “Cam đoan thế nào cũng khỏi. Thứ thuốc này đặc biệt lắm. Cộng thêm những lời hùa theo tin vào vị thuốc thần ấy của mọi người mà vợ chồng lão Hoa càng thêm tin tưởng hơn, ai cũng nghĩ thằng Thuyên chắc chắn sẽ khỏi bệnh không thể nào khác đi được. Vậy mà cuối cùng sự thần kỳ của phương thuốc ấy không xảy ra, Thuyên chết, một cái đầy xót xa bởi nó đã giao hết tính mạng mình cho sự định đoạt bố mẹ, ấy vậy mà chính bố mẹ nó đã đẩy nó vào con đường chết vì sự thiếu hiểu biết của họ. Lỗ Tấn đã vạch trần hiện thực của đất nước Trung Quốc  lúc bấy giờ. Dưới ách thống trị tù túng, ngột ngạt của nhà Thanh đã đẩy người dân nơi đây vào một cuộc sống đầy bế tắc, khiến họ chìm sâu vào những điều mê tín ngu muội, lạc hậu. Chữa bệnh không dựa trên những phương pháp mê tín, dị đoan mà phải có một phương thuốc dựa trên những cơ sở khoa học đúng đắn.

Lỗ Tấn không cần sử dụng nhiều lời văn miêu tả nhưng đã khéo léo lồng ghép hình ảnh của một người chiến sĩ cách mạng anh dũng với tên Hạ Du vào trong cuộc nói chuyện của những người trong quán trà. Là một trong số những người dân sớm giác ngộ tư tưởng cách mạng, Hạ Du đã chọn cho mình lối đi hướng tới cách mạng, dám dấn thân hy sinh cho đất nước, cho dân tộc. Thế nhưng trong con mắt ngu muội của quần chúng nhân dân thì anh chỉ là: “thằng quỷ sứ“, “nhãi con“, “thằng khốn nạn”, “thằng điên”… Ngay cả người chú ruột của anh cũng đã đứng ra tố cáo cháu mình để đổi lấy hai mươi lạng bạc. Quả là một tình cảnh bi hài, đau thương cho một người chiến sĩ anh dũng lại bị chính những người anh bảo vệ gọi là giặc. Trung Quốc lúc bấy giờ như một kẻ bị bệnh nặng cận kề cái chết, chỉ cần một liều thuốc đặc trị để chữa lành và thoát khỏi nạn vong quốc. Hình tượng người chiến sĩ cách mạng Hạ Du bị coi là tử tù đã phê phán, lên án, tố cáo gay gắt tình trạng suy thoái của đất nước này, sự u mê, thiếu hiểu biết của quần chúng về chính trị về cách mạng, sự rời xa, thoát ly ra khỏi quần chúng nhân dân của người làm cách mạng.

Không gian và thời gian trong truyện có sự thay đổi khi Lỗ Tấn thể hiện sự lạc quan và niềm hi vọng về một tương lại tươi đẹp của đất nước. Cả Hạ Du và Thuyên đều chết vào mùa thu, thì đến mùa xuân năm sau vào tiết thanh minh hai người mẹ đến thăm mộ con. Hình ảnh “con đường mòn nhỏ hẹp, cong queo, do những người hay đi tắt giẫm mãi thành đường” thể hiện sự lạc hậu trong tập quán, lối mòn trong suy nghĩ của người dân. Con đường ấy cũng giống như cái ranh giới giữa ngôi mộ của người chết chém với ngôi mộ của những người nông dân nghèo.Cái ranh giới ấy từ lâu đã in sâu trong tư tưởng của nhân dân, là sự phân biệt rạch ròi giữa những cuộc đời khác nhau trong lối suy nghĩ. Ngay cả mẹ của Hạ Du cũng không hiểu, không tin tưởng con mình, khi bắt gặp bà Hoa, bà “đỏ lên vì xấu hổ” và không dám bước tới mộ con. Nhưng con đường mòn kia, ranh giới kia đã bị bà Hoa xóa bỏ khi sang phía bên kia con đường để an ủi, chia sẻ nỗi đau thương, mất mát với mẹ của Hạ Du. Đó như sự đồng cảm của hai bà mẹ. Hình ảnh một vòng hoa nhỏ xuất hiện trên mộ của Hạ Du, thể hiện được rằng đã có người đồng cảm, thấu hiểu việc làm, sự hi sinh của Hạ Du, đồng thời cũng nói lên sự thương xót, biết ơn, trân trọng của tác giả cùng với một niềm hy vọng vào một tương lai tươi sáng hơn của đất nước Trung Quốc.

Với ngòi bút sắc sảo, lối viết giàu hình ảnh sinh động mà chân thực Lỗ Tấn đã phác họa lên hình ảnh một đất nước Trung Quốc suy thoái trầm trọng, u mê và dốt nát. Truyện ngắn “Thuốc” đã để lại một giá trị lịch sử vô cùng to lớn cho đất nước.

Thuốc của lỗ tấn
Thuốc của lỗ tấn

Phân tích bài thuốc lỗ tấn

(Bài văn mẫu số 2)

Chữa bệnh thể xác không quan trọng bằng chữa bệnh tinh thần” đây là một quan điểm nổi tiếng của nhà văn Lỗ Tấn. Ông là nhà văn tiên phong trong việc dùng ngòi bút nghệ thuật để vạch trần, phanh phui các “căn bệnh tinh thần của quốc dân” – là nguyên nhân quan trọng khiến cho xã hội Trung Quốc lúc bấy giờ trở lên trì trệ và suy thoái.Ông là là ngọn cờ đầu, là người đã khai sinh ra nền văn học cách mạng Trung Quốc. Với ngòi bút tài tình của Lỗ Tấn, các tác phẩm của ông đều đã để lại những ấn tượng, những bài học sâu sắc. Và tiêu biểu nhất là truyện ngắn “Thuốc”.

“Thuốc” được viết vào năm 1919 khi xã hội Trung Quốc đang bị thống trị bởi triều đại Mãn Thanh  cùng sự can thiệp của các nước đế quốc tranh. Nó là sự phanh phui về sự u mê, ngu muội, lạc hậu của quần chúng nhân dân, là bức tranh miêu tả bi kịch của người chiến sĩ cách mạng đã anh dũng dấn thân hy sinh mình vì dân tộc, vì tổ quốc và nói lên sự đồng cảm, trân trọng, biết ơn ngợi ca của tác giả đối với những người chiến sĩ ấy.

Đầu tiên tác phẩm gây lên ấn tượng sâu sắc bởi nhan đề của tác phẩm: “Thuốc”. Theo nghĩa đen, thuốc – “bánh bao tẩm máu người ” là chỉ một thứ dược phẩm, một thứ thuốc dân gian bí truyền để chữa bệnh lao, nhưng nó cũng là một thứ thuốc quái đản, mê tín và phản khoa học. Với lớp ý nghĩa khác về “thuốc” mà Lỗ Tấn muốn gửi đến cho mọi người hiểu đó là thuốc để chữa trị sự u mê, ngu muội, vô cảm, thiếu hiểu biết của quần chúng và cũng là liều thuốc để chữa trị cho những người cách mạng đang mang tư tưởng tư sản, họ đang bị xa rời thoát ly với nhân dân. Với những lớp  ý nghĩa đó truyện ngắn “Thuốc” đã trở thành một tác phẩm gây lên tiếng vang lớn trong thời kỳ này.

Tác giả mở đầu tác phẩm bằng câu chuyện lúc “đêm thu gần về sáng“, lão Hoa đều đều bước đi tới pháp trường để mua cái thứ thuốc được coi là “thần dược” về chữa bệnh lao cho đứa con trai độc đinh của lão. Trên đường đi mua thuốc, lão vui mừng, hào hứng vô cùng, tâm trạng lão sảng khoái và trẻ lại như vừa được cải tử hoàn sinh. Vì sao lão lại trở lên như thế ư? Là bởi vì lão sắp cứu được đứa con trai duy nhất, đứa con của “gia đình mười đời độc đinh”. Thứ “thần dược” dùng để chữa căn bệnh ho lao của Thuyên – con trai lão Hoa chính là chiếc “bánh bao tẩm máu người” chết chém. Ban đầu khi nhìn thấy chiếc bánh bao nhuốm máu kia lão còn run lên vì sợ, không dám đưa tay ra cầm, nhưng rồi nghĩ đến đứa con lão đang nằm chờ ở nhà thì lão lại sung sướng. Lão để hết tinh thần vào và nâng niu cái gói bánh ấy như đứa con của mình. Mua được thuốc rồi, con trai được cứu rồi, lão vui mừng mau chóng đem về cho con trai ăn. Chiếc bánh bao ấy được bà Hoa bọc lại trong lá sen đem đi nướng trong bếp lửa. Rồi một cục “tròn tròn, đen thui” xuất hiện, đó chính là vị thuốc quái đản mà lão Hoa đem về. Hai vợ chồng lão Hoa một mực tin tưởng và nói với con: “Ăn đi con! Sẽ khỏi ngay” rồi họ lại “trố mắt nhìn con như muốn rót vào người con một cái gì đồng thời cũng muốn lấy ra một cái gì“. Điều đáng nói ở đây là không chỉ có vợ chồng lão Hoa tin vào thứ thuốc phi khoa học này mà cả những người đang ngồi trong quán trà kia cũng vậy. Họ vẫn tin rằng nó là một thứ thần dược mà: ” Cam đoan thế nào cũng khỏi. Thứ thuốc này đặc biệt lắm …” Nhưng rồi thứ thần dược ấy cuối cùng cũng không cứu được Thuyên, Thuyên đã chết, một cái chết đầy xót xa khi chính bố mẹ cậu là người gián tiếp đẩy cậu vào cái chết vì sự ngu muội, mê tin của họ. Qua câu chuyện này Lỗ Tấn đã vạch trần, đã phanh phui tình hình người dân Trung Quốc lúc bấy giờ, u mê tăm tối, dốt nát mu muội. chiếc bánh bao tẩm máu người được coi là thần dược quái đản kia không những không phải thuốc cứu người mà nó còn là thuốc độc cướp đi một mạng sống con người, một thứ thuốc phản khoa học. Để chữa được bệnh lao cần một thức thuốc đặc trị, đúng khoa học, cũng như chữa “ căn bệnh tinh thần” của nhân dân cần một phương thuốc đặc hiệu và đúng đắn.

Song song với câu chuyện thứ thần dược chết người kia là chuyện người của tử tù Hạ Du- một người chiến sĩ cách mạng. Hình ảnh nhân vật Hạ Du được Lỗ Tấn tái hiện qua việc lồng ghép xen kẽ trong câu chuyện của những người trong quán trà. Hạ Du là một trong những người sớm giác ngộ cách mạng, dám đứng lên đấu tranh đổ máu vì dân tộc, vì đất nước. Thế nhưng không ai hiểu việc anh làm mà trong mắt mọi người anh chỉ là: “thằng quỷ sứ”, “nhãi con”, “thằng khốn nạn”, “thằng điên”….mà thôi. Thậm chí đến người chú ruột của anh cũng đứng ra tố cáo cháu mình chỉ để lấy hai mươi lạng bạc. Bác Cả Khang thì lại lấy máu của anh để bán chác trục lợi. Đến cái áo anh mặc lão Nghĩa cũng tiếc. Còn đối với vợ chồng lão Hoa thì anhđược coi là phương thuốc để chữa bệnh cho con trai họ. Trong mắt tất cả mọi người thì anh là giặc, là kẻ thù nên anh chết là phải. Một người chiến sĩ cách mạng, một con người dám dấn thân mình vào nơi nguy hiểm để giành lại sự tự do, độc lập cho dân tộc mà lại bị chính những người anh bảo vệ coi là giặc. Thật là một điều đáng buồn, một điều nghịch lý vô cùng của cái xã hội Trung Quốc lúc bấy giờ. Sự hy sinh của người chiến sĩ cách mạng Hạ Du đã phê phán, lên án,tố cáo gay gắt tình trạng u mê, ngu muội và thiếu hiểu biết về chính trị, về cách mạng của quần chúng nhân dân, đồng thời thể hiện sự xa rời thoát ly quần chúng của những người cách mạng. Điều đó đã nói lên đất nước Trung Quốc lúc bấy giờ đang mắc phải một căn bệnh thập tử nhất sinh, cần có thứ thuốc đặc hiệu để chữa trị, tránh nạn vong quốc.

Cuối tác phẩm tác giả phác họa lên hình ảnh con đường mòn ở nghĩa địa “con đường mòn nhỏ hẹp, cong queo, do những người hay đi tắt giẫm mãi thành đường”. Cả hai bên thì “mộ dày khít, lớp này lớp khác, như bánh bao nhà giàu ngày mừng thọ”. Cái chết oan uổng của Thuyên- con trai lão Hoa và những sự hy sinh, đổ máu vì dân tộc của Hạ Du đều chỉ vì tập quán, lối suy nghĩ lạc hậu ấu trĩ, mê tín mà ra. Suy nghĩ ấy dường như cũng đã trở thành con đường mòn nơi nghĩa địa kia. Nhưng rồi con đường mòn ấy đã bị bà Hoa xóa bỏ khi bà sang an ủi mẹ, chia sẻ nỗi đau mất con của mẹ Hạ Du. Hình ảnh vòng hoa trên mộ của Hạ Du vừa thể hiện tấm lòng sự biết ơn của tác giả dành cho người chiến sĩ anh dũng ấy, vừa là sự gửi gắm niềm tin vào một tương lại tốt đẹp. Bởi vì dường như đã có ai đó thấu hiểu và đồng cảm với những việc làm và sự hy sinh của Hạ Du, điều đó như nhen nhóm niềm tin, hi vọng vào một tương lai đất nước Trung Quốc tốt đẹp hơn. Một kết thúc có hậu, máu của người chiến sĩ đổ xuống mang ý nghĩa như thức tỉnh được một bộ phận quần chúng, có người đã hiểu được sự hy sinh và nguyện đi theo họ.

Khép lại truyện ngắn, Lỗ Tấn đã khiến cho người đọc không khỏi i băn khoăn. Nghĩ về cái tình cảnh của xã hội Trung Quốc thời kỳ bấy giờ. Tác phẩm không chỉ đơn thuần là một câu truyện ngắn mà nó còn là bức thông điệp, là bài học lịch sử mà nhà văn muốn gửi gắm. Câu truyện đã để lại những giá trị nội dung sâu sắc, ấn tượng điều đó đã tạo lên tiếng vang lớn trong nền văn học Trung Quốc.

Phân tích thuốc lỗ tấn
Phân tích thuốc lỗ tấn

Phân tích tác phẩm thuốc của lỗ tấn

(Bài văn mẫu số 3)

Lỗ Tấn là một trong những nhà văn cách mạng xuất sắc nhất của nền văn học Trung Quốc trong những năm đầu thế kỷ XX. Ông lấy chủ trương là dùng các tác phẩm của mình để chữa trị cái “căn bệnh tinh thần” cho người dân Trung Quốc lúc bấy giờ. Truyện ngắn “Thuốc” là một trong những tác phẩm tiêu biểu nhất đã làm lên tên tuổi của ông và nó được sáng tác vào năm 1919.

Nhan đề của tác phẩm rất độc đáo, chỉ với một từ ngắn gọn mà rất súc tích “Thuốc”, và đây cũng chính là hình tượng trung tâm được phản ánh xuyên suốt trong tác phẩm. Thuốc ở đây là chiếc “bánh bao tẩm máu người” được lão Hoa ra tận pháp trường để mua với tất cả số tiền mà hai vợ chồng dành dụm được, chiếc bánh này được coi là thần dược, nó có thể chữa bệnh cho con trai lão. Nếu hiểu theo nghĩa đen, vị thuốc là một phương thuốc hữu hiệu và chữa trị khỏi căn bệnh lao trong quan niệm của người Trung Hoa lúc bấy giờ. Qua đó ta thấy được sự cổ hủ, lạc hậu, mê tín mù quáng và sự thiếu hiểu biết của quần chúng nhân dân. Đồng thời, nó còn lớp nghĩa khác rằng đây chính là phương thuốc để chữa căn bệnh tinh thần đó là căn bệnh mê tín dị đoan, ngu muội, lối suy nghĩ lac hậu về mặt khoa học đã ăn sâu vào suy nghĩ của người dân thời bấy giờ. Từ đó, ta cũng có thể thấy hình ảnh của một đất nước Trung Quốc đình đốn, trì trệ và suy thoái hết sức. Điều đó đặt ra một vấn đề cấp thiết rằng quần chúng nhân dân Trung Quốc cần phải tỉnh táo, phải thoát khỏi cái nhà hộp bằng sắt không có cửa sổ kia. Tiếp đến là chữa căn bệnh thiếu hiểu biết về mặt chính trị, cách mạng của người dân Trung Quốc. Và một căn bệnh nữa đó là căn bệnh của người cách mạng đương thời đang bị xa rời, thoát ly khỏi quần chúng nhân dân. Qua đó, Lỗ Tấn đã làm nổi bật lên chủ đề tư tưởng trung tâm của tác phẩm đó chính là nỗi đau của đất nước Trung Quốc: nhân dân thì đang còn “ngủ say trong một cái nhà hộp bằng sắt” còn những người chiến sĩ cách mạng thì “bôn ba trong chốn quạnh hiu”. Như vậy, chỉ với duy nhất một từ hết sức ngắn gọn nhưng nhan đề của tác phẩm đã khái quát và nói lên những vấn đề lớn của tác phẩm.

Thời gian, không gian được tác giả mở đầu cho tác phẩm đó là vào buổi sáng sớm khi mặt trời còn chưa mọc, hình ảnh lão Hoa bước đều trên con đường tới pháp trường và hình ảnh đám đông quần chúng đang chen lấn, xô đẩy nhau để xem xử tử Hạ Du một người chiến sĩ cách mạng, mà trong mắt người dân đó là kẻ thù của họ. Quần chúng đám đông phấn khích tột cùng và rất háo hức chờ đến cảnh hành hình Hạ Du. Họ bàn tán xôn xao từ ngoài pháp trường tới quán trà của lão Hoa, họ bình luận, nhận xét về Hạ Du, về cái chết của anh và về những việc mà anh đã làm, họ còn cho rằng Hạ Du là một thằng điên, là thằng khốn nạn… Về hành động bán cháu của cụ Ba – người chú ruột của Hạ Du đã tố cáo cháu mình để nhận hai mươi lạng bạc, thì họ lại cho rằng đó là điều vô cùng khôn ngoan. Còn về việc lão Hoa mua được chiếc bánh bao có máu của Hạ Du thì họ cho rằng lão ta rất may mắn. Qua tất cả những lời nói, những điều mà đám quần chúng bàn tán, nhận xét, ta có thể thấy rằng họ là những kẻ hết sức ngu muội, dốt nát và thiếu hiểu biết về khoa học cũng như chính trị, cách mạng. Đây chính là “căn bệnh tinh thần” mà Lỗ Tấn muốn nhắc tới, nó thật ghê gớm, khủng khiếp hơn cả căn bệnh lao, nó như đang gặm nhấm, ăn mòn tâm trí của người dân Trung Quốc, khiến cho họ mất hết ý chí, u mê, ngu muội hơn. Vì vậy, thuốc mà nhà văn muốn nhắm tới để chữa căn bệnh lao chính là một phương thuốc đặc trị đúng cơ sở khoa học, đồng thời cũng muốn tìm một phương thuốc đặc hiệu dựa trên khoa học đúng đắn để chữa trị cho căn bệnh tinh thần kia.

Tiếp theo nhân vật Hạ Du, anh chỉ xuất hiện qua các lời kể của đám quần chúng trong quán trà của lão Hoa nhưng anh cũng là một nhân vật chính của truyện. Hạ Du là một người sớm được giác ngộ cách mạng, là một chiến sĩ cách mạng anh dũng, dám dấn thân mình vào nơi hiểm nguy để giải thoát cho dân tộc, cho đất nước. Nhưng những con người ngu muội dốt nát kia lại chẳng hiểu những việc anh làm, không ai hiểu những lý tưởng cao đẹp và những hành động anh dũng, bất khuất của anh. Đối với họ những suy nghĩ, lí tưởng của anh thật điên rồ và những việc anh làm đều vô ích và anh đáng phải chét. Bởi vậy, khi anh ngã xuống,không một ai thương xót anh, thậm chí họ còn mỉa mai và đem anh ra để bán chác trục lợi. Thậm chí ngay cả người nhà anh cũng không hiểu anh, cụ Ba tố cáo cháu mình để lấy tiền, mẹ anh xấu hổ khi bắt gặp bà Hoa trong lúc đến thăm mộ con. Cả cuộc đời anh là chuỗi một bi kịch đau đớn, xót xa. Hình ảnh người chiến sĩ cách mạng Hạ Du là biểu tượng của cuộc cách mạng Tân Hợi, của những người chiến sĩ đã anh dũng tiên phong trong cách mạng đương thời.

Cuối tác phẩm là là một hình ảnh vô cùng cảm độn khi hai bà mẹ cùng đi thăm mộ con. Ở đây tác giả có sự dịch chuyển thời gian, không gian nghệ thuật từ đêm mùa thu năm trước đến Tiết thanh minh của mùa xuân năm sau: Mùa thu là mùa của sự tàn lụi, héo úa, đó chính là cái chết của Hạ Du và Thuyên. Còn mùa xuân là mừa hồi sinh, là sự hy vọng khi đã có người đồng cảm, thấu hiểu những sựu hy sinh của Hạ Du. Điều đó được thể hiện qua hình ảnh vòng hoa đặt trên mộ của Hạ Du. Bên cạnh đó, hình ảnh con đường mòn phân chia rõ rang cái ranh giới: một bên là khu mộ của những người chết oan uổng như Thuyên, còn một bên là khu mộ dành cho những người chết chém như Hạ Du. Đây là biểu tượng cho một tập quán xấu, một lối suy nghĩ cổ hủ lạc hậu đã thành lối mòn của người dân. Nhưng rồi lối mòn ấy, ranh giới ấy được xóa bỏ khi bà Hoa đi sang phía bên kia đường để an ủi, chia sẻ nỗi đau mất con của mẹ Hạ Du. Đó cũng như là sự đồng cảm, chia sẻ của hai người mẹ. Cùng với đó hình ảnh vòng hoa trên mộ của Hạ Du, đó như một niềm hi vọng được thắp lên vì cuối cùng cũng đã có người thấu hiểu được những việc cao cả mà anh đã làm. Vòng hoa đó cũng nói lên lời tri ân, sự biết ơn trân trọng của tác giả đến người chiến sĩ cách mạng đã anh dũng hy sinh và tin vào tương lai đất nước tươi đẹp hơn.

Qua tác phẩm “Thuốc”, Lỗ Tấn đã phanh phui, vạch trần cái sự mê muội, mê tín, sự thiếu hiểu biết của quần chúng khi tin. Nhà văn cũng như đang kêu gọi mọi người cần tìm ra một phương thuốc đặc hiệu đúng khoa học để giúp người dân thoát khỏi cái căn bệnh đang ăn mòn tâm trí của nhân dân. Và đồng thời tìm ra phương thuốc để chữa căn bệnh xa rời quần chúng của những người cách mạng như Hạ Du.

 

XEM THÊM:

SOẠN BÀI PHÂN TÍCH HỒN TRƯƠNG BA DA HÀNG THỊT

SOẠN VĂN 12 BÀI CHIẾC THUYỀN NGOÀI XA

SOẠN VĂN NHỮNG ĐỨA CON TRONG GIA ĐÌNH

Tham khảo: Soạn bài các tác phẩm văn học  lớp 12