SOẠN BÀI PHÂN TÍCH HỒN TRƯƠNG BA DA HÀNG THỊT (LƯU QUANG VŨ)

997
Soạn bài phân tích hồn trương ba da hàng thịt
Soạn bài phân tích hồn trương ba da hàng thịt

Tổng quát nội dung có trong bài viết

5/5 - (2 bình chọn)

1. Tóm tắt tác phẩm hồn trương ba da hàng thịt

Nhân vật Trương Ba là một người làm vườn rất tốt bụng, nhân hậu, rất cao cờ và nhân vật này thường hay đấu cờ với Đế Thích. Danh tiếng của ông đã vang đến tận trời xanh. Tuy nhiên, do Nam Tào làm ăn tắc trách và đã gạch bừa tên Trương Ba, khiến ông bất ngờ phải chết oan. Theo gợi ý đến từ Đế Thích, Nam Tào đã cho hồn Trương Ba nhập vào thể xác của hàng thịt ngoài ba mươi tuổi và mới mất ở làng bên cạnh.

Trú nhờ vào trong thể xác hàng thịt, hồn Trương Ba khi này đã gặp phải rất nhiều phiền toái: lí trưởng bị sách nhiễu, chị hàng thịt thì đòi chồng, gia đình của Trương Ba ngày càng lủng củng. Đặc biệt, Trương Ba đang dần dà bị tiêm nhiễm một số thói hư tật xấu và những nhu cầu vốn rất xa lạ với ông. Gay nhất đó là chị hàng thịt đòi hỏi Trương Ba phải chính là người đàn ông thực sự của chị. Lí trưởng nhân cơ hội đấy đã sách nhiễu vòi tiền, còn con trai Trương Ba thì ngày càng đắc ý, lấn lướt và coi thường bố. Ngược lại, vợ và con dâu Trương Ba thì không thể chịu nổi và dần dần lại xa lánh, thậm chí cháu của Trương Ba còn không nhận ông và cũng không muốn đến gần khiến cho người ông Trương Ba cảm thấy vô đau khổ.

Chính trước nghịch cảnh ấy, trước những sự đau khổ mà bản thân của mình phải chịu khi sống nhờ bên trong xác anh hàng thịt. Trương Ba đã đưa ra quyết định trả lại thân xác cho hàng thịt. Sau đó, ông lại được gợi ý mới đó là nhập vào xác cu Tị mới mất. Lần này, thì ông thẳng thừng từ chối và kiên quyết với lựa chọn cái chết để bảo vệ danh dự, nhân phẩm của bản thân mình nhằm không bị vấy bẩn khi trong thân xác của một người khác, bởi những thói rất tầm thường và phàm tục.

2. Dàn ý Hồn Trương Ba da hàng thịt chi tiết

Tóm tắt hồn trương ba da hàng thịt
Tóm tắt hồn trương ba da hàng thịt tham khảo

2.1. Nội dung trong phần mở bài hồn trương ba da hàng thịt

Giới thiệu khái quát tác giả Lưu Quang Vũ và vở kịch Hồn Trương Ba, da hàng thịt.

2.1.1. Mở bài gián tiếp hồn trương ba da hàng thịt

  • Mẫu mở bài gián tiếp hồn trương ba da hàng thịt số 1:
    • Ai khi sinh ra đều được làm con người và cũng mang sẵn trong mình cả phần linh hồn và phần thể xác, nhưng có khi sống đến hết cuộc đời mình đã mấy ai đặt ra câu hỏi rằng liệu ta đã được sống với chính mình hay chưa? Hay là đang cố sống cho vừa lòng những người khác? Làm thế nào để có thể dung hòa hai phần thể xác và linh hồn ấy với nhau? Vươn tới sự cao khiết cả về phần linh hồn và sự khỏe mạnh của thể xác. Vấn đề này hiện đã được tacsc giả Lưu Quang Vũ đặt ra trong thập niên 80 của thế kỉ XX. Nhưng có lẽ đến khi ta nhắm mắt xuôi tay mà vẫn chưa có được câu trả lời thỏa mãn. Chính vị vậy tác phẩm “Hồn Trương Ba da hàng thịt” của Lưu Quang Vũ vẫn còn là vở kịch khiến trăn trở biết bao lòng người. Bằng việc sử dụng nghệ thuật xây dựng nội tâm một cách độc đáo, cảnh VII, đoạn cuối của vở kịch đã đem đến cho người đọc rất nhiều vấn đề tư tưởng sâu sắc thông qua nhân vật hồn Trương Ba.
  • Mẫu mở bài gián tiếp hồn trương ba da hàng thịt số 2:
    • Kịch chính là một loại hình nghệ thuật trên sân khấu và phát triển mạnh mẽ ở nước ta bắt đầu từ thế kỉ XX. Đã có khá nhiều nhà soạn kịch và các vở kịch thành công được ra đời trong thời kì này. Đối với những ai yêu kịch cái tên Lưu Quang Vũ đã không còn xa lạ, chính vở kịch “Hồn Trương Ba da hàng thịt” đã đưa tác giả đi vào lòng của biết bao nhiêu người.

2.1.2. Mở bài hay cho hồn trương ba da hàng thịt

  • Mở bài hồn trương ba da hàng thịt hay mẫu 1:
    • Tác phẩm Hồn Trương Ba,da hàng thịt chính là một trong những vở kịch nổi tiếng nhất của tác giả  Lưu Quang Vũ. Vở kịch đã đặt ra nhiều vấn đề nóng bỏng của xã hội khi đó – thời điểm của những năm tám mươi trong thế kỉ XX. Lưu Quang Vũ đã rất khéo léo mượn lại một tích truyện trong dân gian để đan cài vào đó những suy nghĩ, quan niệm và triết lí nhân văn mới mẻ cực kì sâu sắc.
  • Mở bài hồn trương ba da hàng thịt hay mẫu 2:
    • Lưu Quang Vũ chính là một người nghệ sĩ đa tài, ông không chỉ viết văn, làm thơ mà còn là một nhà soạn kịch tài năng bậc nhất trong nền văn học nghệ thuật của Việt Nam. Trong những tác phẩm kịch của bản thân, Lưu Quang Vũ thường sẽ hướng đến những vấn đề xã hội đang rất nóng bỏng, qua đó thể hiện được những quan niệm sâu sắc về đời người và kiếp người. Trong đó điển hình là tác phẩm “Hồn Trương Ba, da hàng thịt” đây là vở kịch nổi tiếng nhất khi bàn đến bi kịch của một con người khi phải sống bên trong một đằng và bên ngoài một nẻo.

2.2. Nội dung cần có trong phần thân bài

2.2.1. Cuộc đối thoại giữa hồn Trương Ba và thân xác anh hàng thịt

  • Hồn Trương Ba:
    • Vẫn luôn cho rằng mình vẫn có một đời sống vẹn nguyên, trong sạch và thẳng thắn.
    • Hồn chỉ xem xác là cái một vỏ bên ngoài, âm u, đui mù, không có tiếng nói, “không có ý nghĩa gì hết, không có tư tưởng, không có cảm xúc!”, nếu có thì đó cũng chỉ là những thứ thấp kém mà thôi . Hồn Trương Ba luôn phủ nhận vai trò của thân xác anh hàng thịt.
    • Thái độ: ban đầu từ chối quả quyết, mạnh mẽ, sau khi nghe xác anh hàng thịt nói thì chuyển sang ấp úng, bịt tai lại, tuyệt vọng
  • Thân xác anh hàng thịt:
    • Cho rằng hồn Trương Ba và xác anh hàng thịt hòa vào nhau làm một, không thể nào tách rời, mọi việc làm, hành động của hồn Trương Ba đều do xác anh hàng thịt chi phối.
    • Thái độ: từ giễu cợt sang quả quyết, khẳng khái, mạnh mẽ rồi lấn át hẳn và cuối cùng thắng thế
    • Cuộc đối thoại giữa hồn Trương Ba da hang thịt là cuộc đấu tranh giữa phần con và phần người, giữa đạo đức và tội lỗi, giữa cái tốt và cái xấu, giữa khát vọng và dục vọng.

2.2.2. Cuộc đối thoại của hồn Trương Ba với người thân trong gia đình

  • Hồn Trương Ba vẫn luôn cho rằng mình vẫn có một đời sống riêng, nguyên vẹn, trong sạch và thẳng thắn.
  • Thái độ của người thân trong gia đình Trương Ba.
    • Vợ của Trương Ba: buồn tủi, đau đớn, khóc lóc, nhận ra Trương Ba trong thân xác anh hàng thịt kia đã không còn là Trương Ba của ngày xưa, “ông đâu còn là ông”
    • Cháu gái: ghét bỏ, giận dữ, quyết liệt, phản đối, xau đuổi cho rằng ông mình đã chết rồi, còn Trương Ba bây giờ chỉ là một kẻ vụng về, thô lỗ, phũ phàng
    • Con dâu: ngậm ngùi, thấu hiểu, cảm thông, chia sẻ và yêu thương ông nhưng cũng nhận ra, ông không còn là Trương Ba của trước đây nữa.
    • Mỗi người trong gia đình có một thái độ khác nhau khi nói chuyện với Trương Ba, nhưng đều có một điểm chung đó là thấy ông đã thay đổi, không còn nguyên vẹn, trong sạch, thẳng thắn như xưa nữa.
    • Kết quả: Trương Ba lúc này mới vỡ lẽ, ông nhận ra sự thay đổi của bản thân và thấy được sự lấn át của phần xác đối với phần hồn trong ông.

2.2.3. Cuộc đối thoại của Trương Ba với Đế Thích và quyết định của hồn Trương Ba

  • Hồn Trương Ba giác ngộ về ý thức: Con người ta sống cần có sự kết hợp hài hòa giữa thể xác và linh hồn, cần được sống đúng là chính mình như thế mới ý nghĩa.
    • Không thể sống với cuộc sống trong một đằng, ngoài một nẻo được: “Tôi muốn được là tôi toàn vẹn”
    • “Ông chỉ nghĩ đơn giản là cho tôi sống nhưng sống như thế nào thì ông chẳng cần biết
    • “Không thể sống với bất cứ giá nào được. Có những cái giá quá đắt, không thể trả được tâm hồn tôi lại trở lại thanh thản, trong sáng như xưa
  • Quyết định mang tính bước ngoặt của Trương Ba: Một quyết định khó khăn nhưng lại rất đúng đắn.
    • Xin Đế Thích trả lại xác cho anh hàng thịt để anh ta được sống còn Trương Ba sẽ chết.
    • Phép thử của Đế Thích (cho Trương Ba nhập vào xác của thằng cu Tị): Trương Ba không đồng ý, anh nguyện chết để cho cu Tị được sống.
  • Đoạn kết mang một ý nghĩa vô cùng lớn lao, nó có tác dụng đưa ra nhận thức đúng đắn về cách sống của con người, không hoán đổi và sống dựa vào thân xác của người khác để tránh làm cho tâm hồn của mình bị tổn thương. Được sống thì quý giá thật đấy nhưng được sống là chính mình, sống trọn vẹn với bản thân, với những giá trị mình vốn có của mình còn quý giá hơn.

=> Ý nghĩa phê phán:

  • Thứ nhất, lên án, phê phán con người đang mải mê chạy theo những ham muốn vật chất tầm thường, chỉ thích hưởng thụ bất chấp việc mình có trở lên phàm phu, thô thiển.
  • Thứ hai, dựa vào cái cớ tâm hồn là đáng quý, đời sống tinh thần là đáng trọng để không uqan tâm chăm lo đến sinh hoạt vật chất, không cố gắng phấn đấu vì hạnh phúc toàn vẹn. Thực chất đây chỉ là biểu hiện sự lười biếng, không biết vươn lên. Cả hai quan niệm và cách sống trên đều tiêu cực, đáng phê phán.
  • Ngoài ra, vở kịch còn đề cập đến một vấn đề, một thực trạng đang diễn ra trong thời buổi hiện tại, đó là tình trạng con người phải sống giả, sống không đúng với bản thân có thể là không dám và cũng có thể là do hoàn cảnh mà không được sống là bản thân mình. Điều đó dẫn đến nguy cơ đẩy con người ta đến chỗ bị tha hóa do danh lợi.

2.3. Kết bài hồn trương ba da hàng thịt

Khái quát giá trị nội dung, đặc sắc nghệ thuật và nêu lên cảm nghĩ về tác phẩm.

2.3.1. Tham khảo một số mẫu kết bài hay cho hồn trương ba da hàng thịt

  • Kết bài hồn trương ba da hàng thịt hay mẫu số 1:
    • Thông qua nội dung trong cuộc đối thoại giữa xác hàng thịt với hồn Trương Ba tác giả Lưu Quang Vũ đã khéo léo đặt ra một mối trăn trở về quan hệ giữa phần thể xác và linh hồn, giữa nhu cầu về vật chất và tinh thần bên trong mỗi con người. Sự sống rất rất quý giá nhưng sống là cho mình, theo những giá trị sống tốt đẹp mà mình đang theo đuổi thì nó còn quý giá hơn. Để hạnh phúc chúng ta cần dung hòa được những nhu cầu về mặt vật chất và tinh thần.
  • Kết bài hồn trương ba da hàng thịt hay mẫu số 2:
    • Sự sống sẽ chỉ thật sự có ý nghĩa khi mỗi con người được sống theo một cách tự nhiên, có sự hài hoà giữa cả thể xác và tâm hồn. Ở đó, hạnh phúc chính là chiến thắng được bản thân, chiến thắng được sự dung tục để hoàn thiện nhân cách con người và vươn tới những giá trị cao quý nhất về tinh thần. Tác giả Lưu Quang Vũ đã rất thành công khi đã xây dựng nên một vở kịch đầy ý nghĩa và sâu xa. Mặc dù đã rất nhiều lần được công diễn trên các sân khấu, nhưng tác phẩm được khán giả đón xem và hưởng ứng cực kì đông đảo và nhiệt tình.

3. Sơ đồ tư duy phân hồn trương ba da hàng thịt

3.1. Hồn trương ba da hàng thịt sơ đồ tư duy tổng quan

Hồn trương ba da hàng thịt sơ đồ tư duy tổng quan
Hồn trương ba da hàng thịt sơ đồ tư duy tổng quan

3.2. Hồn trương ba da hàng thịt sơ đồ tư duy đối thoại giữa hồn và xác

Hồn trương ba da hàng thịt sơ đồ tư duy đối thoại giữa hồn và xác
Hồn trương ba da hàng thịt sơ đồ tư duy đối thoại giữa hồn và xác

3.3. Hồn trương ba da hàng thịt sơ đồ tư duy đối thoại giữa hồn và đế thích

Hồn trương ba da hàng thịt sơ đồ tư duy đối thoại giữa hồn và đế thích
Hồn trương ba da hàng thịt sơ đồ tư duy đối thoại giữa hồn và đế thích

3.4. Hồn trương ba da hàng thịt sơ đồ tư duy đối thoại giữa hồn với người thân

Hồn trương ba da hàng thịt sơ đồ tư duy đối thoại giữa hồn với người thân
Hồn trương ba da hàng thịt sơ đồ tư duy đối thoại giữa hồn với người thân

3.5. Hồn trương ba da hàng thịt sơ đồ tư duy phần kết tác phẩm

Hồn trương ba da hàng thịt sơ đồ tư duy phần kết tác phẩm
Hồn trương ba da hàng thịt sơ đồ tư duy phần kết tác phẩm

Văn mẫu hồn trương ba da hàng thịt hay tham khảo

 

văn mẫu hồn trương ba da hàng thịt
Văn mẫu hồn trương ba da hàng thịt

Văn mẫu hồn trương ba da hàng thịt

(Bài văn mẫu số 1)

Con người ta luôn ước ao, khao khát được sống, nhưng là một cuộc sống đúng nghĩa, được sống là chính mình. Hiểu được điều đó, Lưu Quang Vũ một nhà biên kịch tài năng của nền văn học Việt Nam đã dựa trên một tác phẩm dân gian để tạo lên là vở kịch “Hồn Trương Ba, da hàng thịt”. Tác phẩm này đã làm lên tên tuổi và  mang tới những thành công lớn cho Lưu Quang Vũ.

Tác phẩm “Hồn Trương Ba, da hàng thịt” được viết từ một câu chuyện dân gian. Câu chuyện đó kể về Trương Ba – một người nông dân làm vườn hiền lành, chất phác, cần cù, yêu thương gia đình nhưng do sự tắc trách của quan trên thiên đình nên anh đã bị “chết nhầm”. Rồi nhờ có sự giúp đỡ của tiên cờ Đế Thích, Trương Ba được sống lại, nhưng đó chỉ là phần linh hồn của anh, còn phần xác là nhờ vào xác của anh hàng thịt vừa mới mất. Những tưởng được sống lại là sự may mắn, là niềm vui bất ngờ, thế nhưng không, Trương Ba sống trong thân xác của anh hàng thịt lại không hề vui vẻ gì. Sự thô kệch về ngoại hình và cái tính cách thô thiển, dung tục của người hàng thịt đã khiến cho Trương Ba dần trở lên thay đổi, không còn là người chồng, người cha, người ông đáng quý trong mắt những người thân nữa. Điều đó đã khiến Trương Ba vô cùng đau khổ, day dứt. Cuối cùng anh đã đưa ra quyết định để giải quyết mọi mâu thuẫn, đó là Trương Ba sẽ trả lại xác cho anh hàng thịt để anh ta được sống và xin Đế Thích ban lại sự sống cho cu Tị còn mình thì mãi rời khỏi trần thế. 

Đoạn trích “Hồn Trương Ba, da hàng thịt” thuộc chương thứ VII và đoạn kết của tác phẩm trên. Nội dung chínhcủa vở kịch nói về sự đau khổ, nỗi dằn vặt của Trương Ba, ông muốn thoát khỏi tình cảnh sống dựa vào thân xác của người khác, muốn được sống là chính mình. Qua vở kịch, Lưu Quang Vũ cũng gửi gắm một thông điệp vô cùng sâu sắc tới những bạn đọc: được sống là một điều quý giá, nhưng được sống đúng với chính mình là điều quý giá hơn, sống là phải có sự hài hòa giữa thể xác và linh hồn, là sống với những giá trị vốn có, theo đuổi những giá trị mà mình hằng mơ ước.

Phần mở đầu của trích kịch là cuộc đối thoại nói đúng hơn là cuộc tranh cãi nảy lửa của phần hồn và phần xác khi mà phần hồn đã không thể chịu nổi được sự lấn át của thể xác, khi mà cái xác đang chi phối và dần tha hoá phần hồn bằng những nhu cầu tầm thường, dung tục. Trong khi hồn Trương Ba luôn đề cao sự “nguyên vẹn, trong sạch, thẳng thắn” thì cái xác lại cho rằng nó chính “là cái bình chứa linh hồn” và hồn Trương Ba phải tồn tại nhờ nó, cũng như phải chiều theo những đòi hỏi của nó. Phải sống nhờ và bị tha hóa dần, bị những người thân chối bỏ, đó chính là bi kịch của cuộc đời.

Mở đầu của đoạn trích kịch là lời than vãn đầy đau khổ của hồn Trương Ba: “Không! Không! Tôi không muốn sống như thế này mãi”. Đó là lời độc thoại, lời nói thốt lên của hồn Trương Ba trong sự bế tắc cùng cực, sự u uất không lối thoát. Một linh hồn cao khiết, trong sạch nhường ấy, giờ đây lại phải chịu sự chi phối của một thân xác cồng kềnh, thô lỗ, dung tục, cái xác ấy đang dần tha hóa, lấn át đi cái vẻ thanh cao, đôn hậu vốn có của con người ông. Ông đã chẳng còn giống trước kia nữa, thay vì hứng thú với cái thú chơi tao nhã là đánh cờ, chăm vườn cây thì giờ đây ông lại thích uống rượu, thích bán thịt. Nhận ra được điều đó hồn của Trương Ba cảm thấy bối rối, hoang mang, đau khổ tột cùng và trong giọng điệu của ông có sự gấp gáp, sự ghê tởm tràn đầy “Tôi không muốn sống như thế này mãi! Tôi chán cái chỗ ở không phải của tôi này lắm rồi, chán lắm rồi! Cái xác kềnh càng thô lỗ, ta bắt đầu sợ mi, ta chỉ muốn rời xa mi ngay tức khắc! nếu cái hồn của ta có hình thù riêng nhỉ, để nó tách ra khỏi cái xác này, dù chỉ một lát”. Những câu nói mang theo sự ghê sợ, chán ghét cùng nỗi oán hận khi không được sống là chính mình. Một bên là vẻ thanh cao, một bên là sự tầm thường, đây quả là một sự kết hợp khập khiễng. Sự kết hợp ấy đã biến Trương Ba thành một cành “tầm gửi” chỉ có thể sống kí thác vào một cái xác “âm u, đui mù”, “không có ý nghĩa gì hết, không có tư tưởng, không có cảm xúc”  khác biệt hẳn với con người ông. Và giờ đây, ông chỉ muốn được thoát ra, được “tách ra khỏi cái xác này, dù chỉ một lát”. Còn gì đau khổ hơn khi tự nhận sự thay đổi, sự tha hoá tồi tệ của bản thân mình mà không có cách nào dừng lại được! Đó là bi kịch, là nỗi đau đớn tột cùng của một tâm hồn thanh cao, nguyên vẹn, trong sáng như Trương Ba.

Và thật sự, hồn Trương Ba đã được tách ra khỏi cơ thể của anh hàng thịt thô kệch. Nhưng qua cuộc đối thoại với cái xác thì dường như cái bi kịch tha hoá của ông lại càng được bộc lộ rõ nét hơn. Trong khi hồn Trương Ba cho rằng sự đổ đốn, sự thay đổi của mình là do cái xác của anh hàng thịt đã tha hoá ông, thì xác anh hàng thịt lại ngang nhiên trả lời rằng: “Nực cười thật! Khi ông phải tồn tại nhờ tôi, chiều theo những đòi hỏi của tôi mà còn nhận nguyên vẹn, trong sạch, thẳng thắn”. Hồn Trương Ba cho rằng cái xác chỉ là “xác thịt âm u đui mù”,không tư tưởng, không cảm xúc” nhưng cái xác lại đưa ra những lập luận, lí lẽ đanh thép, trần trụi đến đáng sợ. Nó nhắc tới những mong muốn của xác thịt, những thứ mà bị coi là thấp kém như ăn ngon, thèm rượu thịt, bát tiết canh… và nó còn nhắc tới sức mạnh khi “tát thằng con ông toé máu mồm máu mũi”.  Đó là những thứ mà cái xác đã và đang biến đổi ông, tha hóa ông, thế nhưng, cũng không thể phủ nhận việc nó giúp ông có thể làm được những điều ông yêu thích như làm vườn, chơi cờ. Những lý lẽ của cái xác trong cuộc đối thoại ấy quả thật rất ti tiện, đê hèn nhưng nó lại rất đúng, vì vậy mà hồn Trương Ba chẳng thể phản bác được. Những điều mà cái xác đưa ra đều là sự thật, vì thế đã khiến cho hồn Trương Ba không thể giữ được bình tĩnh mà quát lên rằng: “đã bảo mày im đi”. Bởi những lời đó khiến ông cảm thấy xấu hổ, ông không còn tin bản thân mình có “một đời sống riêng: nguyên vẹn, trong sạch, thẳng thắn…” nữa, điều đó khiến ông thật sự thất vọng. Hồn Trương Ba luôn nghĩ mình thanh khiết, trong sạch, thế nhưng, ông lại vẫn chiều theo những mong muốn tầm thường của cái xác rồi lại đổ lỗi là do cái xác đã chi phối. Nếu hồn trong sạch thì cái xác có thể ti tiện được chăng, hay là hai thứ đó đã pha trộn, hòa vào nhau rồi và Trương Ba giờ đây đã không còn là Trương Ba của ngày trước nữa?.

Bi kịch của hồn Trương Ba chính là ẩn dụ nói về lối sống của con người. Giữa một bên là sự thanh cao, thuần khiết, là khát vọng sống trong sạch, cao thượng còn một bên là cuộc sống với những vật chất tầm thường, thấp kém. Hai cách sống đó đối lập hoàn toàn và xung đột gay gắt với nhau trong đời sống hằng ngày cũng như phần hồn của Trương Ba và cái thân xác của anh hàng thịt vậy. Con người phải biết quan tâm, chăm chút cho cả tâm hồn và thể xác chứ không thể chỉ chú trọng một bên, bởi nếu không, chúng ta sẽ sống trong sự sai lầm, sự lệch lạc, sự mâu thuẫn giữa tâm hồn và thể xác.

Bi kịch cứ nối tiếp bi kịch với Trương Ba. Đến cả những người thân yêu nhất trong gia đình, những người mà ông vốn yêu thương cũng đang dần xa lánh, ghét bỏ, xua đuổi ông vì không thể chấp nhận được một Trương Ba như thế. Từ người vợ mà ông luôn yêu thương, người đã đầu ấp tay gối với ông bao nhiêu năm cũng không thể chịu nổi một Trương Ba thô kệch, dung tục như bây giờ, đến nỗi bà đã muốn bỏ đi biệt xứ. Cái Gái – đứa cháu yêu quý của ông, trước đây nó luôn kính trọng, yêu thương ông, nhưng giờ đây lại nhìn ông bằng sự “lặng lẽ, soi mói” thậm chí là thấy căm ghét, xua đuổi ông đi. Nó thấy ông đã “làm gãy tiệt cái chồi nongiẫm lên nát cả cây sâm quý mới ươm, rồi còn “làm gãy cả nan, rách cả giấy, hỏng mất cái diều đẹp mà cu Tị rất quý”, những điều mà khi Trương Ba còn sống ông chưa bao giờ làm. Sự thay đổi trong con người của ông đã khiến cho nó không thể chịu đựng nổi, dẫn đến ghét bỏ ông. Có lẽ vì thế mà lúc này ông đã nhận ra rằng mình thật sự đã bị tha hoá, đã thay đổi tới mức không ai còn nhận ra ông nữa. Và cuối cùng là người con dâu đã nói với Trương Ba rằng: Cái bên ngoài là không đáng kể, chỉ có cái bên trong, nhưng thầy ơi, con sợ lắm, bởi con cảm thấy, đau đớn thấy… mỗi ngày thầy một đổi khác dần, mất mát dần, tất cả cứ như lệch lạc, nhoà mờ dần đi, đến nỗi có lúc chính con cũng không nhận ra thầy nữa...  điều này như đã làm thức tỉnh, khơi mào mọi hoang mang, những nỗi hoài nghi trong hồn Trương Ba.

Qua cuộc đối thoại với người thân, những câu nói, thái độ của họ đã khiến cho hồn Trương Ba buộc phải đưa ra một quyết định gì đó để giả quyết mọi việc. Không chấp nhận được sự tha hóa trong tâm hồn, không chấp nhậnđể cái xác tiếp tục lấn át phần hồn trong sạch còn lại của mình nữa, vì vậy ông đã gọi Đế Thích xuống và khẳng định “không thể sống bên trong một đằng, bên ngoài một nẻo được. Tôi muốn là chính mình”. Đáng ra những lời khẳng định này Trương Ba phải nói ra ngay từ ban đầu, ngay từ khi mà ông nhận ra cái xác đã làm biến đổi bản thân mình. Và cuối cùng ông đã đưa ra quyết định đó là “hãy để tôi chết hẳn”, xác anh hàng thịt thì trả lại cho anh ta để anh ta được sống và ông đã xin ban lại sự sống cho cu Tị. Khi đưa ra quyết định này, ông đã cảm thấy “tâm hồn tôi lại được thanh thản và trong sáng như xưa”. Chắc hẳn không hề dễ dàng gì với Trương Ba khi đưa ra quyết định cao thượng đó, bởi là một con người, ai cũng có mong muốn, khát khao được sống, được ở bên những người họ thương yêu. Thế nhưng, với một con người thanh cao, tâm hồn thanh khiết như Trương Ba, phải sống một cuộc sống không đúng với chính mình thì đó không phải là sự sống thật sự.

Cái kết tưởng chừng là bi kịch ấy thực ra là một cái kết đầy nhân hậu. Hình ảnh cu Tị chạy lại ôm mẹ nó đã khiến cho người xem, người đọc thấy cảm động hơn bao giờ hết, bởi sự sống của cu Tị, niềm hạnh phúc to lớn kia là sự đánh đổi với cái chết của Trương Ba. Vườn cây trong nhà của Trương Ba lại trở lại với những màu xanh mát, đó là nơi lưu giữ những hình ảnh của một Trương Ba hiền hậu, chân chất, một Trương Ba với tâm hồn cao khiết, trong sạch, vẹn nguyên. Trương Ba đã mãi mãi ra đi trong thanh thản và sự yêu thương trọn vẹn của nững người thân yêu.

Vở kịch khép lại đã để lại cho chúng ta – những người xem, người đọc nhiều dư âm sâu sắc, những thông điệp quý giá mà tác giả muốn gửi gắm. Đó là hãy luôn sống là chính mình, cố gắng giữ gìn cho tâm hồn mình trong sạch, vẹn nguyên. Dù cuộc đời có bao nhiêu cám dỗ, nhưng hãy cố gắng giữ vững tư tưởng, để sau này, khi ta trở về với cát bụi, thì vẫn luôn tự hào ta vẫn là ta, thanh thản và trọn vẹn là mình. Vở kịch “Hồn Trương Ba, da hàng thịt” của Lưu Quang Vũ xứng đáng là tác phẩm kịch xuất sắc nhất trong sân khấu kịch Việt Nam.

văn mẫu hồn trương ba da hàng thịt hay
Văn mẫu hồn trương ba da hàng thịt hay

Văn mẫu hồn trương ba da hàng thịt hay

(Bài văn mẫu số 2)

Nhắc đến Lưu Quang Vũ chúng ta sẽ nhớ ngay tới một nhà soạn kịch tài hoa, một nhà thơ và là một nhà văn tiêu biểu trong nền văn học hiện đại Việt Nam. Tài năng của ông bao trùm trên rất nhiều các lĩnh vực văn chương nghệ thuật, lĩnh vực nào cũng xuất sắc và trong mỗi lĩnh vực, Lưu Quang Vũ lại để lại cho nền văn học cũng như nghệ thuật những thành tựu to lớn trải dài suốt hàng thế kỉ.

Trong đó “Hồn Trương Ba, da hàng thịt” là một trong những tác phẩm thành công nhất của Lưu Quang Vũ. Nhà phê bình Ngô Thảo đã từng nói về Lưu Quang Vũ rằng: “Bóng rợp tài năng của Lưu Quang Vũ đã trùm lên che mát cả một vùng sân khấu rộng lớn theo chiều dài đất nước trong một thập niên”.

Lưu Quang Vũ đã dựa trên một truyện dân gian để xây dựng lên tác phẩm “Hồn Trương Ba, da hàng thịt”, đó là vở kịch viết về cuộc xung đột, cuộc đấu tranh căng thẳng nảy lửa giữa linh hồn và thân xác. Trương Ba là một người nông dân hiền lành, chân chất, chăm chỉ, có học thức lại rất giỏi đánh cờ, nhưng do sự tắc trắc của Nam Tào trên thiên đình nên anh đã bị chết rất oan uổng. Sau đó, để sửa chữa sai lầm của mình, Nam Tào và Đế Thích đã cho hồn của Trương Ba sống lại và nhập vào xác của anh hàng thịt vừa mới chết.

Nhưng không ngờ sự sửa chữa ấy không những không đem đến những điều tốt đẹp mà nó lại dẫn tới một sai lầm trầm trọng hơn, Trương Ba rơi vào một quãng đời bi kịch khi phải sống trong thân xác của anh hàng thịt – một con người hoàn toàn trái ngược với mình. Sau cùng, Trương Ba đã quyết định lựa chọn cái chết để giải quyết mọi rắc rối, trả lại thân xác đã vay mượn cho anh hàng thịt bởi vì anh ta nói “tôi muốn được là tôi của toàn vẹn”, “sống thế này, còn khổ hơn là cái chết”.

Trương Ba chết, và từ đó vĩnh viễn không còn cái vật quái gở, dị hợm mang tên “Hồn Trương Ba, da hàng thịt” nữa. Vở kịch đã gửi gắm đến chúng ta một thông điệp to lớn rằng: được sống làm người đó là một điều quý giá, nhưng khi được sống là chính mình, sống với những giá trị vốn có của mình, theo đuổi những thứ mà mình mong muốn và sống trong sự hòa hợp giữa tâm hồn và thể xác là điều quý giá hơn.

Với cốt truyện như trên, bản trích kịch “Hồn Trương Ba, da hàng thịt” xoay cuộc đối thoại căng thẳng giữa hồn và xác. Căn nguyên của cuộc đối thoại này xuất phát từ việc hồn Trương Ba đã phải chịu sự chi phối, lấn át của cái thân xác thô lỗ kia, tâm hồn thanh cao, trong sạch của anh bị nhiễm độc, bị tha hóa bởi phải chiều theo những nhu cầu tầm thường, dung tục của xác anh hàng thịt. Xác anh hàng thịt “là cái bình để chứa đựng linh hồn” của Trương Ba, do vậy cái xác đòi hỏi những nhu cầu ăn ngon, uống rượu thịt, tiết canh, khấu đuôi…và cả chuyện đời sống vợ chồng mà Trương Ba cho là phàm phu, thấp kém.

Trong khi hồn Trương Ba càng cố gắng chối bỏ những điều tầm thường kia, đề cao cái sự “nguyên vẹn, trong sạch, thẳng thắn” thì xác anh hàng thịt lại càng khinh bỉ mà nói rằng: “Nực cười thật! Khi ông phải tồn tại nhờ tôi, chiều theo những đòi hỏi của tôi, mà còn nhận là nguyên vẹn, trong sạch, thẳng thắn” .  Từ đó, tác giả Lưu Quang Vũ đã đưa ra những triết lí nhân sinh sâu sắc qua hai tấn bi kịch của cuộc đời Trương Ba.

Bi kịch thứ nhất là bi kịch sống, phải sống trong cuộc đời “sống gửi”, không được là chính mình. Mở đầu của trích kịch là lời kêu gào đầy thống thiết: “Không! Không! Tôi không muốn sống như thế này mãi!” Trương Ba đang độc thoại một mình trước cảnh bế tắc và sự u uất không lối thoát của hiện tại. Cái thân xác kềnh càng, bản tính cục cằn thô lỗ, dung tục của anh hàng thịt đang dần dần lấn át đi cái phần tâm hồn nhân hậu, thuần khiết, thanh cao của chính ông.

Linh hồn thanh cao gửi vào cái thân xác phàm tục quả là sự hoán đổi chênh lệch, sự kết hợp khập khiễng, điều đó đã khiến cho linh hồn của Trương Ba muốn thoát ra khỏi cái thân xác này dù chỉ là trong khoảnh khắc: “Nếu cái hồn của ta có hình thù riêng nhỉ, để nó được tách khỏi cái xác này, dù chỉ là một lát!”

Trong sự chán nản tuyệt vọng hồn Trương Ba đã cất lên tiếng kêu gào thống thiết kia, đó là lời cầu cứu của một linh hồn luôn khát khao được nguyên vẹn là mình. Và cuối cùng lời cầu cứu ấy đã được đáp trả, Hồn và Xác đã được tách ra, và từ đó cuộc hội thoại giữa hồn Trương Ba và xác anh hàng thịt được bắt đầu.

Trong cuộc đối thoại đó, ta thấy hồn Trương Ba đã bị nhạo báng, khinh bỉ, thách thức và đôi lần bị đuối lí trước những lời nói hùng hồn, lí lẽ đanh thép của xác anh hàng thịt. Những lời nói vô cùng ít ỏi của hồn Trương Ba tất cả đều xoay quanh việc đề cao tâm hồn cao thượng, thanh khiết, bảo vệ sự trong sạch của mình và phê phán, lên án xác anh hàng thịt đã làm ông trở  lên dơ bẩn, bị tha hóa. Trước những buộc tội đó, xác anh hang thịt không hề bực tức, đuối lí mà ngược lại, anh ta rất ung dung, ngạo mạn và còn thách thức linh hồn.

Trước lời coi thường, khinh miệt thân xác của hồn Trương Ba “mày chỉ là xác thịt âm u đui mù…”, xác anh hàng thịt rất thản nhiên mà đáp lại: “Chính vì âm u đui mù mà tôi có sức mạnh ghê gớm, lắm khi át cả linh hồn cao khiết của ông đấy!”. Những lời nó đó đều là để buộc hồn Trương Ba phải thừa nhận sự tồn tại cũng như vai trò của thể xác, không những thế, hồn Trương Ba còn đang bị cái thân xác mà mình khinh thường kia trói buộc.

Trong sự thắng thế của xác, hồn đã phải bất lực mà đáp lại: “Im đi”, “Ta… ta… đã bảo mày im đi!”, “Ta không muốn nghe mày nữa!”… Xác anh hàng thịt đã kể lại tất cả những hành động, suy nghĩ, việc làm mang đậm chất phàm tục như “Khi ông đứng cạnh vợ tôi, tay chân run rẩy, hơi thở nóng rực, cổ nghẹn lại…”, “ông có nhớ hôm ông tát thằng con ông tóe máu mồm máu mũi không?” để chứng minh, để khẳng định một điều với Hồn Trương Ba: “Nhưng tôi là cái hoàn cảnh mà ông buộc phải quy phục!”.

Cùng với đó là những lí lẽ vô cùng thuyết phục, đanh thép của xác anh hàng thịt  như “những vị lắm chữ nhiều sách như các ông là hay vin vào cớ tâm hồn là quý, khuyên con người ta sống vì phần hồn, để rồi bỏ bê thân xác họ mãi khổ sở, nhếch nhác”, kể về những sự nhân nhượng, chiều chuộng với hồn Trương Ba. Ta thấy những điều mà xác anh hang thịt đưa ra không hề sai, đó là những lập luận vô cùng sắc bén, chính xác và hợp lý. Vì vậy, cuộc đối thoại đi đến hồi kết trong sự thắng thế của xác anh hàng thịt, cuối cùng hồn Trương Ba cam chịu quay về với xác anh hàng thịt.

Qua đó, chúng ta thấy hồn Trương Ba và xác anh hàng thịt chính là hình ảnh ẩn dụ cho hai lối sống hoàn toàn đối lập, một bên là sự thanh cao, thuần khiết, nhân hậu, luôn khát vọng sống trong sạch, một bên là sự tầm thường, những ham muốn dung tục. Đó đồng thời cũng nói lên sự đấu tranh tư tưởng gay gắt trong một con người. Khi con người sống trong một thân xác tầm thường và dung tục thì ắt sẽ bị nó tha hóa, chi phối và ngự trị. Và ngược lại, nếu chỉ biết chăm chút lo toan cho linh hồn mà coi thường, không quan tâm thể xác thì thể xác cũng nhếch nhác, tầm thường mà thôi.

Tiếp đến là bi kịch thứ hai của Trương Ba. Trương Ba bị chính những người thân trong gia đình cự tuyệt. Có thể nói, với Trương Ba bi kịch này mới khiến ông đau khổ nhất. Ông đau đớn, tuyệt vọng không chỉ bởi sự thay đổi của bản thân mà còn bởi sự chán ghét,  xua đuổi, xa lánh, rời bỏ của người thân. Khoảng cách giữa ông và gia đình, những vết rạn nứt như đang xuất hiện.

Người vợ mà ông hết mực yêu thương, người đã đầu ấp tay gối với ông bao nhiêu năm nay cũng không hiểu được ông nữa: “Ông bây giờ còn biết đến ai nữa!”, rồi còn đòi bỏ ông ra đi “để ông được thảnh thơi… với cô vợ người hàng thịt”, “Ông đâu còn là ông, đâu còn là ông Trương Ba làm vườn ngày xưa”… Mỗi lời nói ấy như một vết dao cứa vào con tim đang rỉ máu của Trương Ba. Ngay cả đứa cháu mà ông yêu thương nhất, đứa cháu mà khi ông còn sống nó hết mực kính trọng, yêu quý ông cũng chán ghét và một mực phủ nhận “Tôi không phải là cháu của ông!”

Nó đưa ra một loạt dẫn chứng chứng minh ông không còn là Trương Ba trước đây: “bàn tay giết lợn của ông làm gãy tiệt cái chồi non, chân ông to bè như cái xẻng, giẫn lên nát cả cây sâm quý mới ươm”, “ông làm gãy cả nan, rách cả giấy, hỏng cả cái diều đẹp mà cu Tị rất quý”…Nó ghét bỏ, căm ghét, xua đuổi ông như đuổi một tên dị hợm, một tên quái gở, một lão đồ tể xấu xa.

Cuối cùng, là chị con dâu, chị ta cũng không còn nhận ra ông nữa: “mỗi ngày con thấy thầy một đổi khác dần, mất mát dần, tất cả cứ như lệch lạc, nhòa mờ dần đi, đến nỗi có lúc chính con cũng không nhận ra thầy nữa”. Chị vẫn luôn kính trọng, yêu thương, cảm thông sẻ chia cho Trương Ba nhưng “nhưng thầy ơi, làm sao, làm sao giữ được thầy ở lại, hiền hậu, vui vẻ, tốt lành như thầy của chúng con xưa kia?” Lời nói của chị dường như xóa tan mọi nghi ngờ, mọi hoang mang của Trương Ba.

Giờ đây ông đã hoàn toàn tuyệt vọng, không còn chút niềm tin nào, cũng chẳng còn thiết tha gì cái mạng sống này nữa. Bấy nhiêu bi kịch là quá đủ rồi. Ông sẽ tìm lối thoát, tìm con đường giải cứu cho cái linh hồn đang bị cầm tù kia của ông. Cuối cùng, ông đã quyết định xin với Đế Thích cái chết vì ông không muốn sống mà “bên trong một đằng, bên ngoài một nẻo được”.

Trương Ba cũng từ chối cơ hội được nhập vào thân xác của Cu Tị vừa mới chết bởi ông không muốn bi kịch lại tiếp tục lặp lại. Tâm hồn của Trương Ba và thân xác của cu Tị hoàn toàn khác xa nhau, làm sao có thể hòa hợp được “trẻ con phải ra trẻ con, người lớn phải ra người lớn”. Với Đế Thích thì quan niệm sống chỉ đơn giản là không chết mà thôi, chẳng cần phải hòa hợp, vẹn toàn, phải ý nghĩa hay phải như mong muốn, ông ta nói: “tôi đâu có được sống theo những điều tôi nghĩ bên trong”, “dưới đất, trên trời đều thế cả, nữa là ông”.

Cái chết của Trương Ba không hẳn là sự chết mà nó là sự tái sinh, sự tái sinh một Trương Ba của trước kia trong lòng những người thân. Từ bỏ một cuộc sống giả tạo, đầy mệt mỏi, hồn Trương Ba đã quay về trở về với chính ông như ban đầu, với cuộc sống của chính mình, với bậc cửa ở nhà, với khu vườn nhỏ, với ánh lửa, với cầu ao, với con dao….Trương Ba cảm thấy hạnh phúc vô cùng khi: “Không phải mượn thân ai cả, tôi vẫn ở đây, trong vườn cây nhà ta, trong những điều tốt lành của cuộc đời, trong mỗi trái cây cái Gái nâng niu…”

Vở kịch “Hồn Trương Ba, da hàng thịt” là tác phẩm gặt hái được rất nhiều thành công rực rỡ trong những buổi công diễn sân khấu kịch. Tác phẩm đã được Lưu Quang Vũ đã gửi gắm những triết lí nhân sinh vô cùng quý giá về cuộc sống và cách sống của mỗi con người. Đặc biệt, nghệ thuật miêu tả tâm lí nhân vật tài tình của Lưu Quang Vũ được thể hiện một cách chân thực, xúc động và gay cấn qua các màn đối thoại, độc thoại đã tạo lên chiều sâu tư tưởng cho tác phẩm.

Tóm lại, thông qua trích kịch “Hồn Trương Ba, da hàng thịt”, Lưu Quang Vũ muốn nhắn nhủ một điều đến cho mỗi con người chúng ta đó là: hãy sống một cuộc sống ý nghĩa, một cuộc sống mà tâm hồn và thể xác có sự hòa hợp, đó mới là sống, một cuộc sống đích thực. Và hãy luôn đấu tranh vươn lên để tìm ra những giá trị chân thiện mỹ trong bất kì hoàn cảnh nào và biết tự hoàn thiện bản thân mình trên mọi phương diện. Đó chính là thông điệp nhân sinh đáng quý mà vở kịch mang lại.

bài văn mẫu hồn trương ba da hàng thịt
Bài văn mẫu hồn trương ba da hàng thịt

Bài văn mẫu hồn trương ba da hàng thịt

(Bài văn mẫu số 3)

Lưu Quang Vũ sinh năm 1948 là một nhà văn, nhà viết kịc tài ba của nền văn học hiện đại Việt Nam, tiêu biểu nhất trong các sáng tác của ông đó là vở kịch “Hồn Trương Ba da hàng thịt”. Tác phẩm đã khắc họa lên những mâu thuẫn, sự đấu tranh giữa linh hồn của Trương Ba với xác của anh hàng thịt,  nói lên bi kịch cũng như niềm mong muốn được sống trọn vẹn về nhân cách của hồn Trương Ba.

Vở kịch “Hồn Trương Ba da hàng thịt được viết dựa vào một câu chuyện dân gian từ lâu đời và được Lưu Quang Vũ biên kịch lại thành một vở kịch nói hiện đại, nó đặt ra những vấn đề mới mẻ và ẩn chứa những triết lý nhân văn một cách sâu sắc. Vở kịch này được công diễn ở rất nhiều các sân khấu kịch trên nhiều nước trên thế giới, nó đã góp phần làm lên tên tuổi của Lưu Quang Vũ.

Nội dung của tác phẩm được tóm tắt như sau: nhân vật Trương Ba là một người nông dân, người làm vườn hiền lành, chất phác và rất có tài chơi cờ tướng, nhưng vì sự tắc trách, một nhầm lẫn nhỏ của Nam Tào trên thiên đình nên Trương Ba bị chết một cách oan uổng. Để có thể sửa chữa lỗi sai của mình thì Nam Tào cùng Đế Thích cho Trương Ba sống lại nhưng lại sống gửi vào thân xác của anh hàng thịt vừa mới chết.

Mọi rắc rối cũng phát sinh từ đây, hồn Trương Ba bị thân xác anh hang thịt chi phối, làm tha hóa con bản chất thanh cao thuần khiết của ông khiến ông không còn là Trương Ba trước kia, vì vậy ông bị những người thân xa lánh, ruồng bỏ, bản thân Trương Ba cũng rất đau khổ khi sống trong một thân xác không phải là của mình. Cuối cùng vì không chịu được nữaTrương Ba quyết định trả lại thân xác cho anh hàng thịt để giải thoát cho linh hồn của mình và chấp nhận cái chết.

Tác giả thể hiện sự mâu thuẫn lên đến đỉnh điểm qua sự dằn vặt, nỗi giằng xé trong tâm hồn một cách đau đớn của Trương Ba. Mở đầu đoạn kịch là cảnh hồn Trương Ba trong thân xác của anh hàng thịt ngồi ôm đầu với từ thế chán chường đau khổ và thốt lên những lời than vãn, kêu gào thống thiết:

Không! Không! Tôi không muốn sống như thế này mãi…Tôi chán cái chỗ ở không phải của tôi này lắm rồi, chán lắm rồii! Cái thân thể kềnh càng thô lỗ này, ta bắt đầu sợ mi, ta chỉ muốn rời xa mi tức khắc! Nếu cái hồn của ta có hình thù riêng để nó được tách ra khỏi cái xác này, dù chỉ một lát!”

Sau đó lời van xin cũng được toại nguyện, hồn Trương Ba được tách ra khỏi xác của anh hàng thịt và cuộc đối thoại giữa hồn và xác bắt đầu. Xác anh hàng thịt đột nhiên cất lên tiếng nói, anh ta cho rằng linh hồn Trương Ba không thể nào tách ra khỏi thân xác của hắn, vì xác anh ta đã là cái bình chứa linh hồn Trương Ba  “cái linh hồn mờ nhạt của ông Trương Ba khốn khổ kia ơi, ông không tách ra khỏi tôi được đâu”… Cái giọng điệu hết sức mỉa mai và thêm phần thách thức. Hồn Trương Ba cũng trả lời với thái độ coi thường ra mặt với cái thân xác kia: “mày cũng biết nói kia à? Vô lý, mày không thể biết nói! Mày không có tiếng nói, mà chỉ là xác thịt âm u đui mù…”,Hoặc nếu có, thì chỉ là những thứ thấp kém, mà bất cứ con thú nào cũng có được: thèm ăn ngon, thèm rượu thịt…”.

Cuộc đối thoại tiếp tục vào đoạn cao trào nhất khi hồn và xác bắt đầu tranh luận nảy lửa. Những lời nói của xác anh hang thịt lấn át cả tiếng nói hồn Trương Ba, giọng đầy trách móc anh ta nói: “Nhưng tôi là cái hoàn cảnh mà ông buộc phải quy phục!… Sao ông có vẻ khinh thường tôi thế nhỉ?” và những lí lẽ, lập luận đanh thép rằng “Nhờ tôi mà ông có thể làm lụng, cuốc xới. Ông nhìn ngắm trời đất, cây cối, những người thân… Nhờ có đôi mắt của tôi, ông cảm nhận thế giới này qua những giác quan của tôi… Khi muốn hành hạ tâm hồn con người, người ta xúc phạm thể xác…, cùng những lời khinh khi “Những vị lắm chữ nhiều sách như các ông là hay vin vào cớ tâm hồn là quý, khuyên con người ta sống vì phần hồn, để rồi bỏ bê cho thân xác họ mãi khổ sở, nhếch nhác… Mỗi bữa tôi đòi ăn tám, chín bát cơm, tôi thèm ăn thịt, hỏi có gì là tội lỗi nào?”. Những lời nói, lí lẽ ấy lại rất chặt chẽ và hợp lý khiến đôi lần làm cho hồn Trương Ba bị đuối lí và bị đẩy vào ở thế bị động. Cuối cùng, hồn Trương Ba vẫn phải cam chịu quay trở lại vào thân xác của anh hàng thịt. Bi kịch tiếp theo đó là Trương Ba bị người thân trong gia đình xa lánh chán gét và ruồng bỏ vì ông đã không còn là Trương Ba của trước đây, không còn là người chồng, người cha, người ông nhân hậu, thanh cao, thuần khiết như trước nữa. Qúa đau khổ trước bi kịch đó, Trương Ba quyết định trả lại thân xác cho anh hàng thịt còn mình lựa chọn cái chết. Thương Trương Ba với bản tính hiền lành, nhân hậu, trong sạch đồng thời cũng không muốn mất đi người bạn cờ mà Đế Thích khuyên ông đổi ý, hoặc sống bằng cách nhập vào thân xác của Cu Tị – bạn của cháu gái ông vừa qua đời, nhưng Trương Ba không muốn bi kịch xảy ra lần nữa nên ông quyết không đồng ý: “Tôi đã chết rồi, hãy để tôi chết hẳn!”

Việc trả thân xác cho anh hàng thịt và xin ban lại sự sống cho cu Tị là hành động vô cùng đúng đắn và hợp lý. Điều đó thể hiện một triết lý nhân sinh vô cùng sâu sắc rằng: được sống là điều quý giá thật, nhưng được sống đúng là chính mình, được sống trong sự hòa hợp giữa linh hồn và thể xác còn quý giá gấp trăm lần.

Có thể đoạn trích kịch “hồn Trương Ba da hàng thịt” đã thể hiện được tính triết lý và tư tưởng nhân văn sâu sắc của vở kịch dân gian này. Ngoài ra , vở kịch này còn đề cập đến tình trạng hiện nay con người đang sống một cách giả tạo, một cuộc sống giả, họ không dám và cũng không được sống là chính mình. Điều đó chính là nguy cơ khiến cho con người bị tha hóa do danh lợi. Với tất cả những ý nghĩa đó, vở kịch này để lại cho bạn đọc, người xem rất nhiều ấn tượng sâu sắc và đã làm lên ten tuổi của Lưu Quang Vũ trong nền văn học Việt Nam.

 

XEM THÊM:

SOẠN BÀI CHIẾC THUYỀN NGOÀI XA

SOẠN VĂN 12 NHỮNG ĐỨA CON TRONG GIA ĐÌNH

SOẠN NGỮ VĂN 12 PHÂN TÍCH RỪNG XÀ NU

Tổng hợp chi tiết tất cả các bài phân tích ngữ văn lớp 12