SOẠN BÀI PHÂN TÍCH RỪNG XÀ NU (NGUYỄN TRUNG THÀNH)

1409
Phân tích rừng xà nu
phân tích rừng xà nu
3.7/5 - (3 bình chọn)

Rừng xà numột truyện ngắn mang đậm chất sử thi hào hùng của nhà văn Nguyễn Trung Thành. Để thấy được chất sử thi ấy cùng hình tượng những người anh hùng lí tưởng trong tác phẩm, các bạn hãy cùng tìm hiểu và phân tích tác phẩm Rừng xà nu trong bài viết dưới đây nhé.

1. Tóm tắt rừng xà nu ngắn nhất

Truyện ngắn rừng xà nu là lời kể của cụ Mết về cuộc đời của nhân vật Tnú cho dân trong làng Xô Man nghe. Tnú từ khi còn rất nhỏ đã dũng cảm, băng rừng vượt núi để có thể liên lạc, nuôi giấu cán bộ đó là anh Quyết. Thời gian trôi qua, Tnú bị giặc bắt trong một lần làm nhiệm vụ nhưng vẫn quyết tâm giữ bí mật và trốn được ra khỏi đó sau 3 năm. Tnú cưới một phụ nữ tên là Mai, thằng Dục đưa quân giặc đến nhằm đe dọa dân làng, chúng giết cả mẹ con Mai, Tnú trở nên phẫn uất xông ra nhưng lại bị chúng bắt và tẩm nhựa xà nu rồi thiêu đốt trên 10 đầu ngón tay. Sau đó, Tnú vẫn quyết tâm lên đường tham gia giải phóng quân và còn lập được rất nhiều chiến tích dù anh ta có đôi bàn tay không lành lặn. Câu truyện làm hiện lên hình ảnh bất khuất đồng thời với đó là vẻ đẹp kiên cường của những cánh rừng xà nu rộng lớn hùng vĩ, của người dân trong làng Xô Man và của nhân vật Tnú. Qua đó cho ta thấy tinh thần quả cảm của những người dân khi đang trong thời kì chiến tranh.

2. Dàn bài Rừng xà nu chi tiết

2.1. Nội dung trong phần mở bài rừng xà nu

Giới thiệu khái quát tác giả Nguyễn Thành Trung (tiểu sử, các tác phẩm tiêu biểu, phong cách sáng tác…) và tác phẩm Rừng xà nu (hoàn cảnh ra đời, tóm tắt nội dung và nghệ thuật).

2.2. Nội dung trong phần thân bài phân tích rừng xà nu

2.2.1. Hình tượng, vẻ đẹp của Rừng xà nu trong tác phẩm

  • Hình ảnh Rừng xà nu xuất hiện xuyên suốt toàn bộ tác phẩm và có mối quan hệ thân thiết, chặt chẽ và gắn bó sâu sắc với mảnh đất Tây Nguyên:
    • Cây xà nu có trong mối quan hệ hằng ngày: ở những bếp lửa đốt bằng cây xà nu, khói xà nu làm thành bảng đen để cho Tnú và Mai học chữ, người dân ở làng Xô Man sống cùng cây xà nu, hẹn hò nhau dưới gốc cây xà nu và thậm chí khi chết họ cũng yên nghỉ bên cạnh cây xà nu.
    • Cây xà nu còn xuất hiện cả trong những sự kiện trọng đại như ngọn lửa cây xà nu đã chiếu sáng cho cả dân làng Xô Man mài giáo đánh giặc,…
    • Ăn sâu vào trong tiềm thức của người dân Xô Man.
  • Rừng xà nu có mối quan hệ rất đặc biệt thân thiết, gắn bó khăng khít và như trở thành một phần máu thịt của toàn bộ dân làng Xô Man.
  • Phép nhân hóa ví rừng xà nu như một sinh thể, chịu những sự tàn phá dữ dội, khốc liệt của chiến tranh: “Cả rừng xà nu hàng vạn cây không có cây nào không bị thương. Có những cây bị chặt đứt ngang nửa thân mình, đổ ào ào như một trận bão”, “vết thương không lành được loét mãi ra năm mười hôm thì cây chết…”
  • Cây xà nu có một sức sống mãnh liệt, chúng sinh sôi nảy nở rất nhanh và rất khỏe: “Cạnh một cây xà nu mới ngã gục, đã có bốn năm cây con mọc lên”, “Cây mẹ ngã, cây con mọc lên. Đố nó giết hết rừng xà nu này!…”.
  • Hình ảnh cây xà nu biểu tượng cho sức sống mạnh liệt và sự nối tiếp của các thế hệ sau của con người Tây Nguyên.
  • Đây là một loại cây ham ánh sáng mặt trời: “Cũng có ít loại cây ham ánh sáng mặt trời tới thế …từ nhựa cây bay ra, thơm mỡ màng”, cũng giống như những con người Tây Nguyên nơi đây luôn khao khát sự tự do và họ có một sức sống mãnh liệt.

2.2.2. Các thế hệ anh hùng của mảnh đất Tây Nguyên

Cụ Mết:

  • Ngoại hình: cụ đã sáu mấy tuổi với bộ râu dài tới ngực đen bóng, mắt sáng và xếch ngược, vết sẹo dài trên má phải láng bóng, ngực căng như một cây xà nu lớn.
  • Tính cách: cụ Mết như một cây xà nu cổ thụ của làng Xô Man, là người luôn yêu thương và hết mực che chở cho dân làng nơi đây. Cụ là biểu tượng của những thế hệ anh hùng đi trước, hội tụ những vẻ đẹp của con người Tây Nguyên –chân chất, là người biết nhìn xa trông rộng, quả quyết, gan dạ và vô cùng sáng suốt.

Phân tích nhân vật Tnú trong rừng xà nu:

  • Tnú là một người chiến sĩ xuất hiện qua lời kể của cụ Mết:
    • Là một người gan góc, thông minh và sáng dạ: khi còn nhỏ đã cùng Mai và rừng theo anh Quyết và đi nuôi các anh bộ đội.
    • Có lòng dũng cảm và trung thành tuyệt đối với cách mạng: khi bị lửa đốt mười đầu ngón tay nhưng Tnú vẫn không thèm kêu van, không khai ra; bị giặc bắt và tra tấn, lưng của Tnú ngang dọc những vết dao chém của kẻ thù nhưng anh vẫn gan góc, trung thành.
    • Có tính kỉ luật cao: cấp trên cho phép về một đêm thì Tnú chỉ về một đêm  và sáng hôm sau lại đi ngay.
  • Tnú cũng là một người chồng, người cha hết mực yêu thương vợ, con: khi anh chứng kiến cảnh hai mẹ con Mai bị tra tấn “Ở chỗ hai con mắt anh bây giờ là hai cục lửa lớn”, “Anh chồm dậy”, “Tnú nhảy xổ ra”.
  • Tnú là một người con, người anh hùng của làng Xô Man, là người luôn gắn bó và đầy tình nghĩa với dân làng.
  • Hơn thế, Tnú là một người con ưu tú của núi rừng Tây Nguyên, anh là nòng cốt của cuộc kháng chiến, biết nén lại đau thương, mất mát của cá nhân vì lợi ích của cả cộng đồng, dân tộc.

Phân tích Nhân vật Dít và bé Heng:

  • Dít: Là một người con gái gan dạ và rất dũng cảm, là con gái nhưng có sức chịu đựng phi thường, biết nén những đau thương và luôn nung nấu ý chí trả thù: chị mất nhưng không khóc, đem gạo vào rừng cho dân làng, giặc bắn súng dọa nhưng vẫn không khai…
  • Bé Heng: tuy còn nhỏ tuổi nhưng đã tình nguyện tham gia làm nhiệm vụ cách mạng: thông thuộc hết từng hố chông, từng chiến điểm để dẫn đường cho những cán bộ cách mạng đi qua hay cho khách đến làng. Bé Heng là thế hệ tiếp nối thế hệ cha anh đi trước để đưa cuộc chiến tới thắng lợi cuối cùng.
  • Nhận xét: Họ là một tập thể anh hùng, là sự nối tiếp, kế tục nhau qua các thế hệ, là biểu tượng cho vẻ đẹp của con người Tây Nguyên: có tình yêu thương, lòng căm thù giặc sâu sắc và luôn trung thành với cách mạng.

2.3. Kết bài hay cho rừng xà nu

Khái quát giá trị nội dung và nghệ thuật và nêu lên cảm nhận về tác phẩm Rừng xà nu.

3. Tóm tắt rừng xà nu ngữ văn 12 ngắn gọn qua Sơ đồ tư duy

 

phân tích tác phẩm rừng xà nu
Phân tích tác phẩm rừng xà nu – trực tiếp
phân tích bài văn rừng xà nu
Phân tích bài văn rừng xà nu – gián tiếp
Hướng dẫn phân tích bài rừng xà nu
Hướng dẫn phân tích bài rừng xà nu – phẩm chất đáng quý
soạn văn bài rừng xà nu
Soạn văn bài rừng xà nu – chân lý đấu tranh
rừng xà nu phân tích theo sơ đồ tư duy
Rừng xà nu phân tích theo sơ đồ tư duy
tác phẩm rừng xà nu
Tác phẩm rừng xà nu tổng quát
tác phẩm rừng xà nu ngữ văn 12
Tác phẩm rừng xà nu ngữ văn 12 gợi ý làm bài
tóm tắt truyện rừng xà nu
Tóm tắt truyện rừng xà nu
Hình tượng cây xà nu
Hình tượng cây xà nu
soạn văn 12 rừng xà nu
Soạn văn 12 hình tượng cây xà nu và nhân vật Tnú

4. Một số bài văn mẫu phân tích tác phẩm Rừng xà nu hay nhất

 

Bài văn phân tích rừng xà nu
Bài văn phân tích rừng xà nu

Phân tích rừng xà nu

(Bài văn mẫu số 1)

Mảnh đất Tây Nguyên nơi sinh ra những người con anh dũng, bất khuất đã trở thành một đề tài hấp dẫn với biết bao nhà văn, nhà thơ trong đó có nhà văn Nguyễn Trung Thành. Ông là một nhà văn tiêu biểu trong thể loại truyện ngắn của nền văn học Việt Nam, nổi tiếng nhất là truyện ngắn “Rừng xà nu”. Đây là tác phẩm đã góp phần làm lên tên tuổi và sự thành công trong sự nghiệp sáng tác của ông.

Nguyễn Trung Thành đã chắp bút viết “Rừng xà nu” vào năm 1965 và nó được in trong tập “Trên quê hương những anh hùng Điện Ngọc”. Ngay từ nhan đề của tác phẩm đã cho người đọc thấy được hình ảnh những cánh rừng xà nu bạt ngàn xanh ngát và sức sống mãnh liệt của nó cũng giống như sức sống mãnh liệt của buôn làng Xô Man.

Xà nu là cây thuộc họ thông, chúng mọc rất nhiều và thường mọc thành rừng rộng lớn, là đặc trưng riêng ở vùng đất Tây Nguyên. Mở đầu tác phẩm, tác giả đã phác họa lên hình ảnh của rừng xà nu bao xung quanh, vươn mình che chở cho dân làng Xô Man tránh được những trận đại bác của quân địch. Sự tàn phá khốc liệt của chiến tranh đã khiến cho “cả rừng xà nu hàng vạn cây không có cây nào không bị thương”, “có những cây bị chặt đứt ngang nửa thân mình, đổ ào ào như một trận bão”.
Đối với dân làng Xô Man, Xà nu là loài cây gắn bó mật thiết, gần gũi như một người bạn đồng hành của họ. Họ đã gắn liền với nó từ khi sinh ra, lớn lên, già đi và cho đến khi về với đất mẹ. Dưới tán xà nu là nơi diễn ra những hoạt động sinh hoạt của người dân nơi đây, là những buổi hò hẹn của đôi trai gái yêu nhau. Ngọn lửa xà nu cháy trong mỗi gian bếp của mọi gia đình, là ngọn đuốc xà nu sáng rực trong những đêm cùng dân làng vót chông nổi dậy chống kẻ thù và là khói xà nu xông những tấm bảng nứa đen kịt làm công cụ để anh Quyết dạy Tnú và Mai học bài. Bấy nhiêu đó đã chứng tỏ công dụng và vai trò to lớn của cây xà nu đối với người dân vùng đất Tây Nguyên này. Thêm vào đó lửa xà nu còn soi sáng “xác mười tên lính giặc ngổn ngang” như thể hiện sức mạnh, ý chí kiên cường, bất khuất cùng lòng dũng cảm, gan dạ của buôn làng Xô Man.

Hình ảnh cây xà nu ngoài mang ý nghĩa tả thực, nó còn mang ý nghĩa biểu tượng, biểu trưng cho số phận và những phẩm chất cao đẹp của những người con Tây Nguyên. Rừng xà nu đã phải gánh chịu biết bao nhiêu những trận đại bác tấn công của địch khiến chúng “đổ ào ào như một trận bão” có khi “bị chặt đứt ngang nửa thân mình”. Những vết thương đó nó “cứ loét mãi ra” chẳng lành được như nói lên những đau thương, mất mát mà người dân nơi đây phải gánh chịu. Nhưng dẫu vậy thì đạn bom của kẻ thù cũng không thể nào ngăn được sự sinh sôi, nảy nở, sự phát triển của cây xà nu: “Cạnh một cây xà nu mới ngã gục, đã có bốn năm cây con mọc lên, ngọn xanh rờn, hình nhọn mũi tên lao thẳng lên bầu trời”. Chúng mọc rất nhanh đến nỗi, “đạn đại bác không giết nổi chúng”. Chính vì thế mà “hai ba năm nay rừng xà nu ưỡn tấm ngực lớn của mình ra che chở cho làng”. Đó chính là biểu tượng cho sức mạnh quật cường, ý chí anh dũng, sự bất diệt của những thế hệ anh hùng người con Tây Nguyên. Thế hệ trước ngã xuống, thế hệ sau sẽ đứng lên tiếp nối, kế tục. Và xà nu cũng là loài cây rất ham ánh sáng mặt trời: “Nó phóng lên rất nhanh để tiếp lấy ánh nắng trong rừng rọi từ trên cao xuống từng luồng thẳng tắp, lóng lánh vô số hạt bụi vàng từ nhựa cây bay ra, thơm mỡ màng”. Điều đó cũng giống những anh hùng như anh Quyết, Tnú… và dân làng Xô Man hướng theo ánh sáng của cách mạng.
Hình ảnh những cánh rừng xà nu và cây xà nu chính là sự sáng tạo độc đáo của Nguyễn Trung Thành. Ông đã dùng một cái nhìn điện ảnh để tái hiện lại khung cảnh, cảnh vật nơi đây một cách sinh động. Có khi ông nhìn từ phía xa để có thể thấy được toàn bộ những cánh rừng xà nu  bát ngát, khi thì sát lại thật gần để thấy được cận cảnh những cây xà nu con đang vươn mình lên theo ánh sáng một cách đầy kiêu hùng. Nó không chỉ là một loài cây bình thường, mà nó còn là loài cây mang hình bóng, dáng dấp anh hùng của con người Tây Nguyên.

Đại diện cho những con người anh hùng ấy là Tnú, một người chiến sĩ kiên cường, bất khuất. Điều đó được thể hiện qua việc Tnú đã vào rừng nuôi giấu cán bộ ngay từ khi anh còn nhỏ. Khi học chữ, Tnú học chậm hơn Mai, anh đã cầm một hòn đá bên bờ suối rồi tự đập vào đầu mình. Rồi nhờ có anh Quyết khuyên nhủ: “Tnú phải làm cán bộ thay anh. Không học chữ sao làm được cán bộ giỏi” mà Tnú đã quyết tâm học chữ. Khi đi liên lạc, Tnú không đi theo lối đường mòn vì ở đó có giặc vây bắt, mà anh cứ “xé rừng mà đi”, “lựa chỗ thác mạnh mà bơi ngang, vượt lên trên mặt nước, cỡi lên thác băng băng như một con cá kình”. Sự nhanh trí, mưu mẹo của anh còn được tác giả thể hiện qua hành động “nuốt luôn cái thư” khi bị địch bắt giữ. Anh cũng thật hiên ngang và đầy gan dạ khi trả lời câu hỏi cán bộ ở đâu của bọn địch bằng cách chỉ tay vào bụng và nói “Ở đây này”.

Khi lớn lên, Tnú cùng với dân làng Xô Man mài vũ khí để chiến đấu. Tin này khi đến tai thằng Dục, nó đã tìm mọi cách để bắt được Tnú. Nó đã bắt cả Mai và con trai của Tnú nhằm mục đích: “Bắt được con cọp cái và cọp con, tất sẽ dụ được cọp đực trở về”. Và rồi Tnú cũng không cứu được hai mẹ con Mai. Anh bị bọn thằng Dục bắt đi và bị tra tấn một cách dã man, chúng quấn giẻ đã tẩm dầu xà nu lên mười đầu ngón tay của anh rồi đốt. Nỗi đau mất vợ, mất đứa con trai đầu lòng mới sinh cùng với nỗi đau về thể xác dường như đã quyện hòa vào nhau, dâng lên cao trào và trở thành nỗi căm hờn, uất hận. Nhưng Tnú vẫn gan lì “không kêu lên một tiếng nào” mà “trợn mắt nhìn thằng Dục”. Dường như ý chí kiên cường và tinh thần bất khuất đã khiến cho: “Anh không cảm thấy lửa ở mười đầu ngón tay nữa. Anh nghe lửa cháy trong lồng ngực, cháy ở bụng. Máu anh mặn chát ở đầu lưỡi.

Răng anh đã cắn nát môi anh rồi”.
Tnú không chỉ là một người mang phẩm chất anh hùng đẹp đẽ, cao cả mà anh còn là một con người sâu nặng nghĩa tình. Tnú vừa là một người anh hùng vừa là một người chồng, người cha yêu thương vợ con hết mực. Phải tận mắt chứng kiến cảnh hai mẹ con Mai bị bắt, bị tra tấn, anh “đã bứt đứt hàng chục trái vả mà không hay”, “ở chỗ hai con mắt anh bây giờ là hai cục lửa lớn”. Anh đã đã quên đi cả sinh mạng của mình lao ra cứu mẹ con Mai, cứu lấy người anh yêu thương nhất mà không sợ hiểm nguy.

Tnú mồ côi cha mẹ từ nhỏ, lớn lên trong sự đùm bọc, nuôi nấng của dân làng nên tình yêu quê hương của anh vô cùng sâu nặng. Khi được nghỉ phép dù chỉ là một ngày, anh cũng đã về thăm làng, “xúc động để vòi nước của làng mình giội lên khắp người như ngày trước”. Anh yêu quê hương mình tha thiết, yêu cả tiếng giã gạo rộn rã, chuyên cần của buôn làng, nó luôn thổn thức trong lòng anh bao nhiêu năm nay. Nếu  không phải là một người có tình yêu quê hương sâu nặng thì Tnú sẽ không có những cảm nhận đầy tinh tế như vậy.

Bên cạnh nhân vật Tnú, tác giả còn khắc họa thêm các nhân vật khác như anh Quyết, cụ Mết, Mai, Dít và bé Heng, điều đó làm nổi bật lên những thế hệ anh hùng nơi đây nối tiếp nhau đứng lên chống giặc. Anh Quyết là một cán bộ cách mạng mẫu mực, là người anh dẫn dắt chỉ đường, là người thầy đã dạy chữ cho Tnú và Mai. Đồng thời, anh cũng là đã người nhen nhóm ngọn lửa đấu tranh cho người dân Tây Nguyên. Anh giữ vai trò vô cùng quan trọng trong việc hướng dẫn, giáo dục tinh thần cách mạng cho những thế hệ trẻ. Anh cũng là người đã khơi dậy được lòng yêu nước và lòng quyết tâm chiến đấu diệt giặc vì lí tưởng cách mạng của Tnú.
Sẽ là một thiếu xót vô cùng lớn nếu chúng ta không nhắc đến nhân vật cụ Mết. Cụ là một già làng trong buôn làng Xô Man, là người anh hùng thuộc thế hệ đi trước đã lãnh đạo buôn làng nổi dậy chiến đấu. Cụ cũng chính là người kể lại cho thanh niên trong làng, cho những thế hệ sau nghe về cuộc đời của Tnú. Cụ Mết đã khẳng định và chỉ ra con đường cách mạng mà nhân dân phải đi: “Chúng nó đã cầm súng, mình phải cầm giáo”. Lời nói ấy của cụ như là một chân lí đúng đắn để nhân dân ta tin tưởng và làm theo. Nhân dân ta không thể chịu áp bức, bóc lột mãi được, không có súng thì ta vót chông, cầm giáo…, phải cầm giáo đứng lên để đấu tranh cho chính nghĩa.

Những thế hệ nối tiếp, kế tục con đường của cụ Mết, Tnú đó chính là Dít và bé Heng. Dít sau khi lớn lên đã trở thành một chính trị viên xã đội đồng thời cũng là  bí thư chi bộ nhưng ngay từ khi còn nhỏ, Dít đã là một cô bé gan dạ, đầy lòng dũng cảm. Điều đó được thể hiện qua hành động cứ sẩm tối, Dít lại “bò theo máng nước đem gạo ra rừng cho cụ Mết, Tnú và thanh niên”. Dít bị bọn giặc bắt, chúng đã bắn từng viên đạn một “sượt qua tai, sém tóc, cày đất quanh hai chân nhỏ của Dít” khiến cho “nó khóc thét lên” nhưng rồi “đến viên thứ mười nó chùi nước mắt, từ đó im bặt” và nhìn bọn giặc với vẻ mặt “bình thản lạ lùng”. Tuy Dít chỉ là một cô bé nhưng đã có bản lĩnh và một nghị lực phi thường, cô không hề run sợ trước súng đạn của kẻ địch.

Còn với cậu bé Heng, ngày Tnú rời làng ra đi “nó mới chỉ đứng đến ngang bụng anh, chưa biết mang củi, chỉ mới đeo cái xà lét nhỏ xíu theo người lớn ra rẫy” mà khi Tnú trở về thăm làng thì cậu bé ấy đã “mang một khẩu súng trường Mát” rất ra dáng của một người lính thực sự. Heng đã dẫn Tnú đi qua các con đường mà “chằng chịt hầm chông, hố chông, cứ mười phút lại gặp một giàn thò chuẩn bị sẵn, cần thò căng như dây ná, đánh một phát chắc chắn gẫy đôi ống quyển, lưỡi thò từng đôi, từng đôi gác lên giàn, sắc lạnh”.  Cậu bé ấy dũng cảm, gan dạ ấy đã góp phần tạo lên một tập thể anh hùng trong những ngày kháng chiến chống đế quốc Mỹ ác liệt của nhân dân Tây Nguyên.

Câu truyện mang đậm chất sử thi hùng tráng, nó được thể hiện qua đề tài, nhan đề của tác phẩm, nhân vật cũng như giọng điệu của tác giả. “Rừng xà nu” đã tái hiện lại không khí hào hùng, oanh liệt của cuộc đứng lên đấu tranh chống đế quốc Mỹ của buôn làng Xô Man nói riêng và của cả dân tộc Việt Nam nói chung. Hệ thống nhân vật được tác giả khắc họa là những con người anh hùng, kiên cường, bất khuất xuất hiện trên một nền không gian rộng lớn. Ngoài ra, Nguyễn Trung Thành cũng vô cùng sáng tạo khi lấy hình tượng cây xà nu làm biểu tượng cho những con người anh hùng Tây Nguyên.

Nhà văn đã xây dựng lên hai tuyến nhân vật mang tính đối lập, giữa bọn thằng Dục là những kẻ địch tàn ác, hung bạo và những thế hệ anh hùng nơi mảnh đất Tây Nguyên để làm nổi bật lên tinh thần và ý chí đấu tranh của họ. Với hình thức kết cấu truyện lồng trong truyện, “Rừng xà nu’ đã mang lại sức hấp dẫn và lôi cuốn người đọc.

Bài văn phân tích rừng xà nu hay
Bài văn phân tích rừng xà nu hay

Phân tích hình tượng rừng xà nu

(Văn mẫu số 2)

Nguyễn Trung Thành tên thật là Nguyên Ngọc, “Rừng xà nu”  là kết quả sau chuyến đi tìm kiếm thực tế sáng tác tại vùng núi rừng Tây Nguyên hoang sơ. Truyện ngắn “Rừng xà nu” nhằm ca ngợi những con người mang bản chất anh hùng của mảnh đất Tây Nguyên kiên cường, bất khuất và một lòng trung thành với cách mạng trong cuộc kháng chiến chống kẻ thù xâm lược.

“Rừng xà nu” chứa đựng rất nhiều ý nghĩa nhân văn sâu sắc, tình cảm và lòng yêu nước nồng nàn, sâu nặng của những người dân nơi vùng núi đại ngàn. Tác phẩm được coi là một bản hùng ca bi tráng mang đậm chất sử thi hào hùng viết về những người con Tây Nguyên đầy gan dạ, mưu trí và có lòng yêu nước hơn cả mạng sống của mình. Nhờ có tinh thần anh dũng, bất khuất, kiên cường đó mà buôn làng Xô Man nói riêng và toàn dân tộc ta nói chung mới giành được chiến thắng trong cuộc kháng chiến chống lại hai kẻ thù xâm lược vô cùng lớn mạnh.

Hình ảnh rừng xà nu xuyên suốt toàn bộ tác phẩm, một rừng xà nu bạt ngàn, rộng lớn trải dài tới hút tầm mắt. Một rừng xà nu mà nơi đó không có cây nào không bị thương, bởi rừng xà nu ấy đã anh dũng vươn mình che chở, bảo vệ cho dân làng thoát khỏi những trận đại bác trút xuống của quân địch. Nên việc những cây xà nu bị thương cũng là điều vô cùng dễ hiểu. Nhưng dù có bị thương như thế nào, vết thương có khiến cho nhựa cây chảy ra nhiều bao nhiêu thì nó cũng không bao giờ chết. Bởi nó có một sức sống vô cùng mãnh liệt, gan góc, chỗ vết thương ấy theo thời gian rồi sẽ tạo thành một vết sẹo mà thôi. Thêm vào đó nó có sức sinh sôi nảy nở vô cùng khỏe, nếu một cây to bị ngã xuống thì lại sẽ có vài cây con mọc lên ngay dưới chân nó. Cũng không có loài cây nào ham ánh sáng mặt trời như cây xà nu “nó phóng lên rất nhanh để tiếp lấy ánh nắng, thứ ánh nắng trong rừng rọi từ trên cao xuống…” giống như những cán bộ cách mạng và người dân buôn làng Xô Man luôn tin và đi theo ánh sáng cách mạng vậy. Vì vậy cánh rừng xà nu cứ thế mà mãi xanh tươi bát ngát.

Hình ảnh những cây xà nu kiên cường, bất khuất kia chính là biểu tượng của con người nơi mảnh đất Tây Nguyên này, những con người ấy luôn một lòng trung thành với Đảng với cách mạng. Tất cả những con người nơi đây từ người già như cụ Mết, cho tới những thế hệ trẻ như Tnú, Mai, Dít và bé Heng đều có một tinh thần yêu nước sâu nặng . Dù lớn dù bé họ cũng luôn một lòng hướng về quê hương đất nước của mình, cùng có lòng căm thù giặc sâu sắc.

Nhân vật trung tâm của truyện xuất hiện song song với hình tượng cây xà nu chính là anh Tnú, một người anh hùng của dân tộc. Anh là một chiến sĩ cách mạng kiên cường, dù đã trải qua vô vàn đau thương, mất mát về tinh thần và đau đớn về thế xác khi bị giặc tra tấn  nhưng những điều đó càng làm cho Tnú thêm kiên cường và căm thù giặc sâu sắc. Tnú vốn là một cậu bé chịu rất nhiều bất hạnh trong cuộc đời, mồ côi cha mẹ từ nhỏ,  được cụ Mết và người dân trong buôn làng Xô Man nuôi lớn và dạy bảo lên người. Ngay từ khi còn nhỏ Tnú đã là một cậu bé có tinh thần anh dũng, kiên cường, anh làm liên lạc công việc của anh là đưa thư cho các chiến sĩ cách mạng. Để tránh sự truy đuổi của bọn giặc Tnú không đi những con đường mòn dễ đi mà anh cứ  “xé rừng mà đi”. Rất nhiều những nhiệm vụ khó khăn đều đã được Tnú hoàn thành. Có lần Tnú bị bọn giặc bắt được, chúng tra tấn Tnú một cách dã man nhưng anh vẫn kiên cường không khai ra, sự mưu trí của anh được thể hiện qua hành động “nuốt lá thư vào bụng” của mình để bảo đảm an toàn của bức thư.

Từ khi còn nhỏ Tnú và Mai là đôi bạn thanh mai trúc mã, cả hai người đều được cán bộ Quyết dạy chữ. Mai thông minh nên học nhanh hơn, học đến đâu nhớ đó, còn Tnú thì chậm hơn cứ quên hoài nên khi anh học thua Mai, anh đã lấy viên đá bên suối đập vào đầu của mình. Được anh Quyết khuyên nhủ nên anh đã cố gắng học chữ. Khi lớn lên Mai và Tnú kết hôn, kết quả tình yêu của họ chính là một bé trai kháu khỉnh rất giống Tnú. Nhưng để bắt được Tnú, bọn thằng Dục đã đế bắt hai mẹ con Mai để uy hiếp Tnú xuất hiện. Chịu sự tra tấn dã man của bọn chúng hai mẹ con đã không qua khỏi, Tnú đau đớn ôm xác vợ con. Cuối cùng anh bị bọn chúng bắt và tra tấn dã man bằng cách chúng tẩm nhựa xà nu và giẻ quấn vào mười đầu ngón tay anh và đốt cháy, nhưng Tnú lại không hề cảm thấy đau đớn bởi nỗi đau trong lòng anh bây giờ còn lớn hơn nỗi đau thể xác. Tnú như một cây xà nu trưởng thành anh dũng, bị giặc bắn phá bị thương, nhưng anh vẫn luôn kiên cường bất khuất và không bao giờ gục ngã.

Bên cạnh nhân vật Tnú, tác giả còn khắc họa lên một loạt các nhân vật khác như cụ Mệt, Mai, Dít, bé Heng…họ đều là những người con mảnh đất Tây Nguyên kiên cường, gan dạ, dũng cảm. Mỗi nhân vật có một nét tính cách và số phận khác nhau, nhưng họ đều có chung một lòng yêu quê hương đất nước, căm thù lũ giăc xâm lược và luôn một lòng trung thành với Đảng và cách mạng.

Dít cùng thế hệ với Tnú, cô là bí thư chi bộ xã cũng là chính trị viên xã đội của làng Xô Man. Ba năm trước, khi Tnú rời làng đi lúc đó Dít “còn là một cô bé không có áo mặc, đêm lạnh không ngủ, đốt lửa ngồi cho đến gà gáy rồi đi giã gạo thay chị …”. Vậy mà nay khi Tnú trở về, cô bé ấy đã trưởng thành và đảm trách những công việc trọng yếu nhất của làng Xô Man này. Ngay từ khi còn nhỏ Dít đã là một đứa bé lanh lợi và rất gan dạ. Có lần, Dít bị giặc bắt “Chúng để con bé đứng giữa sân, lên đạn tôm xông rồi từ từ bắn từng viên một, không bắn trúng, đạn chỉ sượt qua tai, sém tóc, cày đất quanh hai bàn chân nhỏ của Dít. Váy nó rách tượt từng mảng. Nó khóc thét lên nhưng rồi đến viên thứ mười, nó chùi nước mắt, từ đó im bặt. Nó đứng lặng lẽ giữa bọn lính, cứ mỗi viên đạn nổ, cái thân hình mảnh dẻ của nó giật lên một cái nhưng đôi mắt nó vẫn nhìn bọn giặc bình thản lạ lùng”.

Dít còn là một cô bé cương nghị vô cùng khi chứng kiến cái chết đầy đau thương của chị Mai, Dít vẫn “lầm lì không nói gì cả, mắt ráo hoảnh trong khi mọi người cả cụ già, đều khóc”. Cứ thế Dít lớn lên, trưởng thành cùng với cuộc đấu tranh của buôn làng Xô Man. Trở thành một người cán bộ lãnh đạo cuộc chiến đấu của buôn làng, Dít cũng tỏ ra là một người có bản lĩnh và rất có sức thuyết phục quần chúng.

Cụ Mết chính là đại diện cho những người thuộc thế hệ đi trước của làng Xô Man, cụ là chỗ dựa tinh thần của dân làng. Cụ Mết được tác giả khắc họa lên như một nhân vật huyền thoại, kết tinh tất cả những phẩm chất tốt đẹp của con người Tây Nguyên. Cụ Mết vừa là người có vai trò nối kết thế hệ truyền thống, với lịch sử quê hương, vừa là người có vai trò chỉ đường, dẫn dắt thế hệ thanh niên trẻ trong cuộc chiến đấu hiện tại. Chính vì có một thế hệ cha ông mẫu mực như cụ Mết mà thế hệ sau này của Tnú, của Dít… mới có sự trưởng thành lớn lao như bây giờ.

Bé Heng là thế hệ sau của Tnú, Dít. Bé Heng cũng được lớn lên cùng với cuộc chiến đấu ác liệt của làng Xô Man. Với nhân vật bé Heng, nhà văn chỉ phác họa qua vài hình ảnh miêu tả ngoại hình nhưng cũng đã đủ để tạo ra ấn tượng sâu sắc cho người đọc. Mới là một cậu bé mà bé Heng đã rất ra dáng của “một người lính thật sự, đội chiếc mũ sụp xin được của anh giải phóng quân nào đó, mặc vào một chiếc áo bà ba dài phết đít, vẫn đóng khố, súng đeo chéo ngang lưng”. Bé Heng còn thuộc từng lớp hầm bẫy, hố chông nơi cánh rừng xà nu này và trở thành người liên lạc như Tnú năm xưa. Thật tự hào và tin tưởng với một lớp người dũng cảm như bé Heng! Thế hệ ấy đang lớn lên, trưởng thành và thật xứng đáng với thế hệ cha anh.

 

“Rừng xà nu” là một truyện ngắn vô cùng thành công của nhà văn Nguyễn Trung Thành khi viết về đề tài những  người con Tây Nguyên trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ cứu nước của dân tộc ta. Hình ảnh rừng cây xà nu anh dũng, hiên ngang, bất khuất tựa như những người anh hùng và dân làng Xô Man bất khuất, trung thành, quả cảm.

Bài văn phân tích rừng xà nu hay nhất
Bài văn phân tích rừng xà nu hay nhất

Phân tích tác phẩm rừng xà nu

(Bài văn phân tích tác phẩm hay số 3)

Mảnh đất Tây Nguyên đầy nắng và gió nơi sinh ra những người con anh hùng bất khuất đã trở thành một nguồn cảm hứng sáng tác của nhà văn Nguyễn Trung Thành. “Rừng xà nu” là một tác phẩm tiêu biểu và nó đã góp phần tạo lên sự thành công trong sự nghiệp sáng tác của ông.

Nguyễn Trung Thành viết “Rừng xà nu” vào năm 1965, được in trong tập “Trên quê hương những anh hùng Điện Ngọc”. Ngay cái tên nhan đề của tác phẩm đã gợi lên cho người đọc liên tưởng tới hình ảnh những cánh rừng xà nu bạt ngàn, tràn ngập sức sống mãnh liệt giống như sức sống mãnh liệt của người dân buôn làng Xô Man.

 

Xà nu là loài cây đặc trưng của vùng đất Tây Nguyên này. Những cánh rừng xà nu xanh ngút ngàn trải dài bát ngát xuyên suốt tác phẩm. tác giá đã miêu tả những cây xà nu từ cụ thể chi tiết cho đến toàn cảnh. Nó hiện lên với đầy đủ hình dáng tính cách và ý chí kiên cường giống như những người dân nơi đây.

Đạn địch có bắn phá không thể nào đốn ngã được những cây xà nu quật cường ấy. Dù có bị đạn bắn bị thương, nhưng nó vẫn vươn lên xanh tốt, cây này ngã xuống thì những cây con lại mọc lên ngay dưới gốc cây đó, nhựa xà nu chảy ra như những dòng máu nóng chảy trong một cơ thể sục sôi tinh thần chiến đấu vì dân tộc. Rừng xà nu được miêu tả chi tiết, cụ thể, mang đậm chất sử thi và càng làm nổi bật lên tính cách, số phận của những người con của buôn làng Xô Man.

Những người anh hùng ấy chính là Tnú, là Mai, cụ Mết, là Dít và là bé Heng. Mỗi một nhân vật được tác giả phác họa với những phẩm chất, tính cách riêng nhưng trong họ đều hội tụ những phẩm chất anh hùng, là người dũng cảm, quật cường, có một tình yêu vô bờ bến đối với quê hương đất nước, với cách mạng. Tnú là một chàng trai gan dạ, lì lợm và là một cán bộ cách mạng anh dũng. Anh được anh Quyết chỉ dạy, dẫn dắt và giác ngộ cách mạng ngay từ khi còn nhỏ. Ngay từ khi còn là một cậu bé, Tnú đã dũng cảm đi nuôi giấu các cán bộ trong rừng, luôn xông xáo, anh dũng làm những nhiệm vụ nguy hiểm. Khi bị bọn giặt bắt và tra tấn thì cậu vẫn bất khuất một chút cũng không khai ra, trái lại còn gan dạ chỉ tay vào bụng mình khi bị bọn giặc hỏi cán bộ ở đâu.

Tnú cũng là một người cha, người chồng hết mực yêu thương vợ con và là một người con yêu thương bản làng sâu sắc. Chứng kiến cảnh vợ con mình bị sát hại, tra tấn anh xông tới tay không đối với địch mà không hề run sợ, ánh mắt anh hằn lên vẻ căm thù uất hận, anh chịu đựng sự tra tấn, bị giặc đốt mười đầu ngón tay mà quyết không chịu khuất phục. Anh có một tình cảm sâu năng với dân làng Xô Man, vì đây chính là nơi anh được sinh ra, anh mồ côi cha mẹ ừ nhỏ chính  người dân nơi đây đã nuôi dạy anh lên người, vì vậy anh vẫn tranh thủ về thăm buôn làng dù chỉ có một ngày nghỉ phép.

Mai, Dít là con gái những cũng có lòng can đảm không kém Tnú. Họ giống hình tượng chị Chiến trong “Những đứa con trong gia đình, họ sớm đã giác ngộ và đi theo cách mạng. Dù là phận gái chân yếu tay mềm, nhưng họ lại không hề yếu đuối, tinh thần và hành động của họ quả cảm hơn bất kỳ ai.

Mai cùng Tnú khi nhỏ là đôi thanh mai trúc mã, cùng nhau nuôi giấu cán bộ trong rừng, bị giặc tra tấn, sát hại những vẫn quyết không khai nửa lời. Dít dù còn bé nhưng đã rất gan lì, đứng trước những làn đạn của giặc mà không hề sợ hãi, vẫn im re, mắt nhìn trâng tráo và không khai một câu. Họ là đại diện cho thế hệ những người phụ nữ mà “Giặc đến nhà đàn bà cũng đánh” đáng ngợi ca của dân tộc ta.

Cụ Mết là người tuổi cao, là già làng của làng Xô Man này nên cụ có nhiều trải nghiệm nhất, cụ nhìn thấu hết mọi việc bằng con mắt tinh tường của một người dày dạn, một người đã trải qua rất nhiều thăng trầm đã trở lên vững vàng và bình ổn. Cụ như là ngọn cờ đầu, là người chỉ huy, người lãnh đạo của cả buôn làng. Cụ đứng lên kêu gọi toàn bộ dân làng xông tới cứu Tnú khi chứng kiến anh bị tra tấn. Cụ cũng là người kể lại những câu chuyện về cuộc đời Tnú cho những thế hệ sau của buôn làng nghe và noi theo. Cụ Mết chính là người giữ lửa cách mạng và là người kết nối những thế hệ khác nhau của buôn làng Xô Man.

Mỗi một con người, một nhân vật trong tác phẩm “Rừng xà nu” lại có những tính cách và số phận khác nhau, nhưng trong họ đều có một tinh thần đoàn kết, rất yêu thương nhau và cùng chung mối căm thù với lũ giặc Mỹ.

 

Tác phẩm “Rừng xà nu”  có sự kết hợp tài tình giữa khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn đã đem đến cho người đọc những cảm nhận vô cùng sâu sắc về hình tượng cây xà nu và hình ảnh những con người “anh hùng dân tộc” của làng Xô Man trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ. Tác phẩm như tô đậm truyền thống yêu nước, tinh thần kiên cường bất khuất của những anh hùng dân tộc đồng thời ca ngợi và cổ vũ con em thế hệ sau noi gương thế hệ cha anh tiếp bước gìn giữ non sông.

 

XEM THÊM: 

PHÂN TÍCH TÁC PHẨM VỢ NHẶT

PHÂN TÍCH TÁC PHẨM VỢ CHỒNG A PHỦ KIM LÂN

Phân tích tác phẩm ai đã đặt tên cho dòng sông

Bài chi tiết tổng hợp tất cả các bài soạn văn lớp 12 trong chương trình SGK