Kỳ lân là kỳ lân nào?
Người Việt vốn không xa lạ gì với kỳ lân, con thần thú cổ đại, rất quen thuộc trong khối đồng văn Hán ngữ (tạm gọi là KL1), mà người Trung Quốc viết là 麒麟 (bính âm: qí lín). Theo Thuyết văn giải tự của Hứa Thận thì lân là tên gọi chung chỉ cặp đôi kỳ lân, trong đó, kỳ là con đực và lân là con cái. Được coi là loài thú nhân từ, không giẫm đạp lên cỏ tươi và sinh vật sống, dẫu vậy, kỳ lân lại có bộ dạng khá dữ dằn, với tạo hình nửa rồng nửa thú, các bộ phận là tổng hợp của rất nhiều loài vật, có thể một sừng hoặc dạng lộc nhung hay gạc giống như sừng hươu nai…
Thế nhưng, còn có một kỳ lân khác (KL2), có nguồn gốc Tây phương, trông đích thị một con ngựa, chỉ khác mỗi chiếc sừng dài nhọn hoắt giữa trán (có thể có thêm đôi cánh hoặc không). Đây cũng là con vật thần thoại, tiếng Anh gọi là unicorn, ghép từ uni (uni- tiền tố tiếng La Tinh có nghĩa là một) và cornu (sừng). Câu hỏi đặt ra, là tại sao, unicorn lại được Việt dịch thành “kỳ lân”? Trong khi, ở chính quê hương của kỳ lân, unicorn là “độc giác thú” 独角兽 (thú một sừng), rất “trực quan”, trong Hán ngữ phổ thông hiện đại. Chẳng lẽ, ai đó ở ta đã dịch bừa, rồi “sai lâu thành đúng”; hay đã chọn cách dịch tương đương, vốn không phải quá khó tìm trong kho tàng văn học cổ, như cách Đào Duy Anh dịch cây “phong” thành cây “bàng” (bản địa hóa một loài cây cùng có lá đỏ)?
Mọi sự đều có nguyên do. Trong Hán văn, kỳ lân được viết 麒麟 (bộ lộc/hươu), nhưng còn một cách viết ít phổ biến hơn là 騏驎 (bộ mã/ngựa). Hai kiểu viết này có thể dùng thông nhau, tuy nhiên, cách viết thứ hai thì ngoài nghĩa chỉ kỳ lân còn có nghĩa khác là “lương mã”/“tuấn mã”… chỉ ngựa hay/ ngựa tốt. Riêng chữ lân 驎 nếu đứng một mình còn được giải thích là để chỉ “vằn giống như vảy cá trên mình ngựa” (Từ điển Trần Văn Chánh), có thể xem là một yếu tố liên hệ đầy sức thuyết phục giữa “kỳ lân ngựa” và “kỳ lân tổng hợp”, bên cạnh yếu tố sừng. Như vậy, gọi unicorn là kỳ lân, hẳn không phải gọi bừa.
Kỳ lân trong văn hóa châu Âu (unicorn) có tạo hình phổ biến là một con ngựa trắng với chiếc sừng dài trước trán, như minh họa trong bức Trinh nữ dịu dàng và trầm ngâm có sức mạnh thuần dưỡng kỳ lân (1602), tranh fresco, Domenico Zampieri, trưng bày tại Palazzo Farnes, Roma. Ảnh: Wikipedia
(Nói thêm: Có người dịch unicorn là “kỳ mã” hoặc “bạch kỳ mã”, nhưng đây là cách ghép từ tùy tiện, bởi bản thân chữ kỳ 騏 – “ngựa tốt” đã có “ngựa” trong đó rồi, hơn nữa, còn có nghĩa khác là “ngựa xám”, thì không thể vừa trắng vừa xám được).
Ngựa hóa kỳ lân và “kỳ lân hóa” ngựa
Ngoài lý do ngôn ngữ qua phân tích từ nguyên như đã nói, nguyên nhân dẫn đến khác biệt trong việc diễn dịch hình ảnh unicorn – ngựa một sừng, có thể còn do trong văn hóa Trung Hoa, kỳ lân là linh thú bản địa, đã hình thành hệ biểu tượng hoàn chỉnh. Với người Việt, “tứ linh” là long, ly/lân, quy, phượng (rồng đứng đầu); còn với người Trung Quốc, “tứ linh” theo Kinh Lễ lại là lân, phượng, quy, long (lân đứng đầu).
Rất có thể, “trật tự” sắp đặt này có liên quan đến Khổng Tử – ông tổ của Nho giáo, người đã biên soạn Kinh Xuân Thu (còn gọi Lân kinh, Lân sử) – một bộ sử viết theo lối biên niên, song ngụ ý sâu xa của nó bao hàm triết lý về nền đạo đức chính trị quân chủ, theo thuyết chính danh của nhà Nho.
Chính vì vậy, người Trung Quốc đã gọi unicorn là “độc giác thú” một cách trung tính, thay vì “kỳ lân” – vốn đã gắn chặt với thiên mệnh – minh quân tới mức không thể “giải thiêng” (desacralization) hoặc “tha hóa” (alienation).
Trái lại, người Việt tuy chịu ảnh hưởng của văn hóa Trung Hoa nhưng dường như đã tiếp cận “mềm” theo cảm thức dân gian hóa đặc thù: Một nhân thú (hiền), cao quý, không có thật, có sừng… rất tương đồng để có thể gọi là kỳ lân. Không “dịch nghĩa” mà “dịch biểu tượng”, đó chính là cách mà một con ngựa đẹp bỗng hóa thành kỳ lân, chỉ với một chiếc sừng dài trước trán.
Hoặc nói khác đi, ở góc nhìn xoay chiều, linh thú thiện mỹ ấy, là một tạo hình “kỳ lân hóa” (để trở nên siêu thực) đối với loài vật quen thuộc từng sát cánh cùng người Việt cả trong lao động, sản xuất và chiến đấu suốt hàng ngàn năm qua: NGỰA!


